
Cảm nhận về hình tượng Đất nước trong đoạn trích “Đất nước” của Bằng Việt
Đề bài: Anh/chị viết bài văn nghị luận 600 chữ cảm nhận về hình tượng Đất nước trong đoạn trích sau:
[…]Tôi đi như bốc lên trên bụi đường số Một
Qua gạch vụn hai bên, người đang tới dựng nhà,
Nhịp cầu mới vươn tay kéo nhịp cầu đã sập
Cây nham nhở tàn tro vừa kịp nhú nhành hoa…
Tôi gặp khắp nơi những bàn tay vun quén
Tôi thuộc đến như in những vóc dáng cần cù
Đất nước dám hy sinh tất cả dành Kháng chiến
Ngày thắng giặc hôm nay, sẽ đủ sức làm bù.
Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp một
Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi,
Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới
Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi!
Đâu tiếng ru à ơi qua nghìn làng sơ tán?
Đêm thức trắng không đèn, chuyến phà chật mùa mưa?
Kỷ niệm vẫn theo ta, diết da và loé sáng,
Truyền sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ!
(Tam Đảo 1973)
(Trích Đất nước, Bằng Việt, Đất sau mưa, NXB tác phẩm mới, 1977, tr.8)
I. Mở bài
Giới thiệu được tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận.
II. Thân bài
1. Cảm nhận được hình tượng Đất nước:
a. Hình tượng Đất nước trong cảm nhận của chủ thể trữ tình:
+ Đó là một Đất nước phải trải qua nhiều đau thương, mất mát vì bom đạn chiến tranh (gạch vụn, cầu sập, cây nham nhở tàn tro) nhưng vô cùng anh dũng, kiên cường, bất khuất, vượt qua đau thương Đất nước chuyển mình, hồi sinh mãnh liệt (dựng nhà, cầu mới vươn tay, nhủ nhành hoa…).
+ Đất nước hiện lên trong vẻ đẹp của những con người cần cù, chịu thương chịu khó, những bàn tay vun vén nơi nơi (những bàn tay vun quén, những vóc dáng cần cù…); những con người sẵn sàng hi sinh, chiến đấu và chiến thắng (Đất nước dám hi sinh tất cả dành Kháng chiến…)
+ Đất nước còn mang vẻ đẹp về sự tiếp nối, trao truyền các thế hệ để tạo nên một dòng chảy lịch sử với trách nhiệm dựng xây tương lai Đất nước không ngừng sinh sôi, phát triển (Mỗi em bé tung tăng vào lớp Một, Mỗi cô gái…)
b. Hình tượng Đất nước được tái hiện bằng nghệ thuật đặc sắc:
+ Ngôn từ bình dị, mộc mạc nhưng đầy sức gợi; hình ảnh thơ gần gũi, sống động mà ấm áp ân tình; câu cảm thán, câu hỏi tu từ kết hợp khéo léo, hài hoà khắc họa được hình tượng Đất nước thiêng liêng hùng vĩ.
2. Đánh giá khái quát:
+ Những câu thơ về Đất nước của Bằng Việt thấm đẫm tình yêu tha thiết, cảm xúc nồng nàn và niềm tự hào, niềm kiêu hãnh Việt Nam.
+ Bài thơ đánh thức tình yêu quê hương đất nước, gợi nhắc thế hệ trẻ trách nhiệm nối tiếp truyền thống, xây dựng Tổ quốc giàu đẹp hơn.
III. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Bài làm tham khảo
Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ ông mang vẻ đẹp trẻ trung, giàu cảm xúc mà vẫn lắng sâu những suy tư về con người và Tổ quốc. Trong tập Đất sau mưa, đoạn thơ viết năm 1973 ở Tam Đảo của bài thơ Đất nước đã để lại nhiều rung động bởi hình ảnh một đất nước bước ra từ chiến tranh với biết bao đau thương mà vẫn ánh lên sức sống mãnh liệt. Qua những vần thơ tha thiết ấy, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp kiên cường của dân tộc, đồng thời thấy rõ dòng chảy bền bỉ của niềm tin và khát vọng hồi sinh.
Mở đầu đoạn thơ là bức tranh đất nước vừa đi qua khói lửa chiến tranh với đầy những dấu tích đau thương:
“[…] Tôi đi như bốc lên trên bụi đường số Một
Qua gạch vụn hai bên, người đang tới dựng nhà,
Nhịp cầu mới vươn tay kéo nhịp cầu đã sập
Cây nham nhở tàn tro vừa kịp nhú nhành hoa…”
Những hình ảnh “bụi đường số Một”, “gạch vụn hai bên”, “nhịp cầu đã sập”, “tàn tro” gợi lên một hiện thực khốc liệt, nơi chiến tranh đã để lại vô vàn mất mát trên hình hài đất nước. Từng câu thơ như chạm vào những vết thương còn chưa kịp lành của dân tộc. Thế nhưng, giữa hoang tàn ấy, sự sống vẫn đang bền bỉ vươn lên. “Người đang tới dựng nhà”, “nhịp cầu mới vươn tay”, “nhú nhành hoa” đều là những hình ảnh mang sức gợi lớn lao về sự hồi sinh. Động từ “vươn tay” khiến nhịp cầu như mang linh hồn của con người, đang dang tay nối lại những chia cắt đau thương. Đặc biệt, hình ảnh “nhành hoa” mọc lên từ “tàn tro” đã trở thành biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân tộc Việt Nam. Càng trải qua đổ nát, đất nước càng mạnh mẽ đứng dậy bằng ý chí kiên cường và niềm tin không bao giờ tắt.
Từ cảm xúc trước cảnh vật, mạch thơ chuyển dần sang cảm xúc về con người, những con người bình dị mà lớn lao của đất nước:
“Tôi gặp khắp nơi những bàn tay vun quén
Tôi thuộc đến như in những vóc dáng cần cù
Đất nước dám hy sinh tất cả dành Kháng chiến
Ngày thắng giặc hôm nay, sẽ đủ sức làm bù.”
Hình ảnh “bàn tay vun quén”, “vóc dáng cần cù” gợi lên vẻ đẹp lặng thầm của nhân dân lao động. Họ không xuất hiện với những chiến công vang dội mà hiện lên qua sự tần tảo, bền bỉ trong công cuộc dựng xây lại quê hương. Chính những con người bình dị ấy đã làm nên sức mạnh của đất nước. Câu thơ “Đất nước dám hy sinh tất cả dành Kháng chiến” vang lên đầy xúc động như một lời khẳng định về tinh thần quả cảm của cả dân tộc. Đất nước hiện lên không chỉ là hình hài sông núi mà còn là máu, là nước mắt, là sự hi sinh của biết bao con người trong suốt những năm tháng chiến tranh. Dẫu mất mát lớn lao, dân tộc ấy vẫn tin tưởng vào ngày mai, tin vào khả năng “làm bù” bằng đôi bàn tay lao động và ý chí vươn lên mạnh mẽ.
Mạch cảm xúc tiếp tục ngân lên tha thiết khi nhà thơ hướng ánh nhìn về những thế hệ mới của đất nước:
“Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp một
Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi,
Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới
Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi!”
Những em bé đến trường, những cô gái chuẩn bị áo cưới là hình ảnh của tương lai, của hạnh phúc đời thường sau chiến tranh. Điều khiến người đọc xúc động chính là phía sau những niềm vui bình dị ấy là cả một quá khứ đầy bom đạn. Các em sinh ra trong “triệu tấn bom rơi”, những cô gái bước vào tuổi xuân từ “công sự bom vùi”. Quá khứ đau thương không hủy diệt được sự sống mà trái lại càng khiến con người thêm mạnh mẽ và biết trân trọng hòa bình. Trong cảm nhận của nhà thơ, mỗi bước chân đến lớp, mỗi tà áo cưới hôm nay đều được dệt nên từ máu xương và nghị lực của cả dân tộc.
Khổ thơ cuối khép lại bằng dòng hồi tưởng đầy da diết về những năm tháng gian lao:
“Đâu tiếng ru à ơi qua nghìn làng sơ tán?
Đêm thức trắng không đèn, chuyến phà chật mùa mưa?
Kỷ niệm vẫn theo ta, diết da và loé sáng,
Truyền sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ!”
Những câu hỏi tu từ vang lên như tiếng gọi của kí ức. “Tiếng ru à ơi”, “đêm thức trắng không đèn”, “chuyến phà chật mùa mưa” đều là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc của một thời chiến tranh gian khổ. Quá khứ ấy hiện về vừa tha thiết, vừa nhói đau nhưng cũng ánh lên vẻ đẹp của tình người và sức chịu đựng phi thường của dân tộc. Câu thơ “Kỷ niệm vẫn theo ta, diết da và loé sáng” thật giàu sức gợi. Kỉ niệm chiến tranh không chìm vào quên lãng mà trở thành nguồn sức mạnh tinh thần nâng đỡ con người hôm nay. Chính quá khứ đầy hi sinh ấy đã “truyền sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ”, giúp đất nước tiếp tục bước tới tương lai bằng niềm tin và lòng biết ơn sâu sắc.
Đoạn thơ ghi dấu phong cách nghệ thuật giàu cảm xúc của Bằng Việt. Ngôn ngữ thơ giản dị mà giàu sức gợi, hình ảnh chân thực nhưng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Giọng thơ khi sôi nổi, tha thiết, lúc lắng đọng suy tư đã tạo nên những rung động chân thành trong lòng người đọc. Đặc biệt, nghệ thuật đối lập giữa hoang tàn và hồi sinh, giữa đau thương và hi vọng khiến hình tượng Đất nước hiện lên vừa chân thực vừa đẹp đẽ vô cùng.
Khép lại đoạn thơ, người đọc không chỉ bắt gặp một giai đoạn lịch sử đầy gian khổ mà còn cảm nhận được vẻ đẹp bất khuất của dân tộc Việt Nam. Những vần thơ của Bằng Việt như ngọn lửa âm thầm thắp sáng lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong mỗi con người. Qua đó, ta càng thấm thía rằng cuộc sống bình yên hôm nay được đánh đổi bằng biết bao hi sinh của cha ông, để từ đó biết sống trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước mình.
Chủ đề:Bài thơ đất nước của Bằng Việt là thể thơ gì, Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Đất nước của Bằng Việt, Cảm nhận bài thơ Đất nước của Bằng Việt, Cảm nhận về hình tượng Đất nước trong đoạn trích Đất nước của Bằng Việt, Đất nước Bằng Việt, Đọc hiểu Đất nước-Bằng Việt, Hình tượng đất nước trong bài thơ đất nước của Bằng Việt, Nội dung bài thơ Đất nước của Bằng Việt
