
So sánh hai đoạn trích truyện ngắn “Quê mẹ” của Thanh Tịnh và “Cô hàng xén” của Thạch Lam
Đoạn trích thứ nhất:
(Lược dẫn: Cô Thảo lấy chồng, chồng cô là anh Vận là hương thơ ở làng Mỹ Lý, công việc tuy vất vả mà lương tháng lại ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết. Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác. Đến ngày giỗ của ông cô, cô xin mẹ chồng được về làng ăn giỗ. Cô được mẹ chồng cho một hào và chồng cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa. Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Hàng xóm sang chơi để xem sự thay đổi của cô, mấy cậu em đua nhau ra núi áo chị. Buổi chiều làm lễ, thầy cô gọi cô ra lễ thế phần của chồng, rồi hỏi thăm vì sao anh lại không về cùng cô. Trước câu trả lời của cô, đứa em họ trề môi nói mỉa mai, làm cô xấu hổ với họ hàng, hai dòng lệ chảy dài trên má…)
Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm. Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở. Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn. Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão. Nhưng làng Quận Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.
(Trích Quê mẹ, Thanh Tịnh, In trong tập Quê mẹ, NXB Kim Đồng, 2006)
Đoạn trích thứ hai:
(Lược dẫn: Tác phẩm xoay quanh cuộc đời của Tâm – một cô gái bán hàng xén. Tâm là người con gái hiền lành, xinh xắn và luôn mang gánh hàng xén ra ngoài chợ để bán. Cô có bố mẹ và một cậu em trai nhỏ hẵng còn đang đi học. Mặc dù bị chàng trai trêu ghẹo khi mang hàng ra chợ, Tâm vẫn duy trì sự tươi cười và lạc quan chẳng chút ngại ngần. Công việc bán hàng xén giúp Tâm kiếm tiền lo cho gia đình và hỗ trợ em trai trong việc học hành. Tâm dành tất cả tình thương và tâm huyết để đảm bảo cho em trai có một tương lai tốt đẹp. Dù cuộc sống đầy gian nan và vất vả, Tâm luôn tận tâm chăm sóc cho gia đình và hiếm khi than phiền. Dưới lời đề nghị của bà mối, Tâm kết hôn với người con trai mình yêu thích. Tuy nhiên, những khó khăn vẫn tiếp tục áp đảo cuộc sống của cô. Sau hai năm kết hôn, cô sinh con trai đầu lòng nhưng do hoàn cảnh gia đình chồng cũng khó khăn, Tâm phải tiếp tục bán hàng ngay sau thời gian ở cữ. Cuộc sống nặng nề với trách nhiệm lo cho gia đình lớn và nhỏ càng khiến Tâm trở nên già nua và mệt mỏi. Tâm vẫn luôn cố gắng hết mình để giữ cho gia đình mình vững mạnh, thỏa mãn những mong muốn của em trai và chồng)
Tâm lần ruột tượng lấy ra gói bạc giấy cuộn tròn. Số tiền nàng vừa lấy định trang trải các công nợ và lo sưu thuế cho Bài. Nhưng thấy vẻ mặt vui mừng của em, nàng quên mất cả những nỗi lo sợ đang chờ nàng.
Lúc Tâm ra về, trời đã tối. Nàng vội vã bước mau để về cho con bú. Sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi. Lòng nàng mệt nhọc và e ngại: lấy đâu mà bù vào chỗ tiền đưa cho em? Tâm nhớ lại những lời dằn của mẹ chồng và những câu giận dữ của Bài mỗi khi hỏi nàng không có tiền. Nàng nghĩ đến những ngày buôn bán được, ngày không, Tâm dấn bước. Cái vòng đen của rặng tre làng Bàng bỗng vụt hiện lên trước mặt, tối tăm và dầy đặc. Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già toàn khó nhọc và lo sợ, ngày kia như tấm vải thô sơ. Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối.
(Trích Cô hàng xén, Thạch Lam, In trong tập Truyện ngắn Thạch Lam, NXB Văn học, 2003)
I. Mở bài
Giới thiệu hai đoạn trích trong truyện ngắn Quê mẹ của Thanh Tịnh và Cô hàng xén của Thạch Lam.
II. Thân bài
1. Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,…
+ Quê mẹ xoay quanh nhân vật Thảo, người con gái đi lấy chồng xa, điều kiện nhà chồng không dư dả nên thật lâu cô mới được về quê mẹ ăn giỗ. Để cha mẹ yên lòng và được vẻ mặt cùng bà con họ hàng, Thảo phải tỏ ra có điều kiện, phóng khoáng. Nhưng chính cô cũng mơ hồ nhận ra những vất vả phía trước. Đoạn trích đi sâu diễn tả những tâm tư của Thảo khi nghĩ về chặng đời trước mắt.
+ Cô hàng xén là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam. Cốt truyện xoay quanh cuộc sống đời thường của nhân vật cô hàng xén tên Tâm với biết bao lo toan khó nhọc từ khi sinh ra đến khi lấy chồng. Trích đoạn trên giúp ta hiểu rõ nét hơn về tính cách, tâm hồn cô hàng xén Tâm.
2. Những điểm tương đồng, khác biệt giữa hai đoạn trích truyện và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy
a. Những điểm tương đồng giữa hai đoạn trích:
– Cả hai đoạn trích đều hướng tới số phận cũng như vẻ đẹp tâm hồn những người phụ nữ Việt Nam trước Cách mạng. Họ vất vả, nghèo túng, nhưng phía sau cái lam lũ, cần cù lại là tấm lòng nhân hậu, vị tha, sẵn sàng hi sinh cho gia đình và người thân.
– Khai thác hiện thực để gửi vào đó tấm lòng nhân đạo là cách làm giống nhau ở cả Thạch Lam và Thanh Tịnh.
– Cùng chọn kiểu văn ít gay cấn nhưng lại đậm chất thơ dịu dàng cũng là nét đẹp giống nhau ở hai văn bản.
– Đều chọn ngôi kể là ngôi thứ ba, điểm nhìn chủ yếu đặt vào nhân vật trung tâm – những người phụ nữ để thể hiện sự đồng cảm, thấu hiểu chân thành của các nhà văn đối với nhân vật của mình.
b. Những điểm khác biệt và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy:
*Quê mẹ:
– Nghệ thuật kể chuyện: Câu chuyện trùng với cốt truyện, các sự việc diễn ra theo trình tự thời gian -> Giúp người đọc hình dung ra sự nhàm tẻ tất yếu trong cuộc đời nhân vật Thảo. Truyện không có những biến cố, xung đột gay cấn, mạch truyện tiếp diễn theo tâm tư, lời nói, hành động của nhân vật.
– Cách xây dựng nhân vật:
+ Qua hành động: Trước khi rời quê mẹ để trở về nhà chồng: sắm sửa đi qua làng Mỹ-Lý; gọi mấy đứa em đến gần; cho mỗi đứa năm xu; hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Về nhà chồng: làm việc từ mai đến chiều; đứng cửa sau vợ vẫn nhìn về làng Quận Lão.
+ Qua tâm trạng: Được khen rộng rãi và biết thương em, cô vui sướng lắm (cao hứng, cảm động quá, khóc nức nở, nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn). Thương em, thương cha mẹ nên phóng khoáng, rộng rãi, dù bản thân còn nghèo nàn và biết trước mình sẽ nợ nần, vất vả. Cuộc sống lúc nào cũng tối tăm mặt mũi nhưng không lúc nào nguôi thương cha, nhớ mẹ và nghĩ về các em. Tuy vậy, có ngóng trông da diết thì chặng đường về quê mẹ cũng rất tăm tối
– Nghệ thuật ngôn từ: Từ ngữ giản dị, gần gũi, tính biểu cảm cao. Phương thức tự sự được sự bổ trợ của yếu tố biểu cảm nên giọng văn tha thiết, lắng sâu, chân thành.
*Cô hàng xén:
– Nghệ thuật kể chuyện: Cũng là ngôi thứ ba nhưng nhà văn Thạch Lam chọn điểm nhìn từ bên trong để dễ dàng bộc lộ tất cả tâm tư nhân vật Tâm. Diễn tiến câu chuyện đi theo những suy tư của nhân vật Tâm về cuộc sống hàng ngày, về cái nhìn thấu suốt cuộc đời chính mình.
– Cách xây dựng nhân vật:
+ Nhân vật hiện lên qua lời nói, cử chỉ, hành động (hành động không có xung đột), qua những suy tư của Tâm, qua những đánh giá của người trần thuật. Tâm phải sống cuộc sống đầy vất vả và bất hạnh: Công việc không ngừng nghỉ, gia cảnh đôi bên đều nghèo khó, con còn nhỏ, mẹ chồng đay nghiến, chồng đánh đập và đòi hỏi tiền bạc. Ý nghĩ của Tâm ở phần cuối văn bản như dự cảm cho một số phận chịu nhiều vất vả, thiệt thòi, chịu nhiều đắng cay nhọc nhằn, không lối thoát.
+ Vẻ đẹp nhân vật Tâm: Thương cha mẹ, thương em, đi sớm về hôm để làm việc, chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, tất bật chu đáo bên chồng, bên đẻ.
– Nghệ thuật ngôn từ, bút pháp, hình ảnh, chi tiết, câu văn, giọng điệu:
+ Yếu tố hiện thực hòa quyện với lãng mạn trữ tình.
+ Những câu văn giàu chất thơ, Thạch Lam khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày. Những biến thái tinh vi của cảnh vật sóng bước cùng những chuyển biến tâm lý đầy tinh tế trong nội tâm nhân vật.
+ Xây dựng những chi tiết nhỏ nhưng làm nên những giá trị lớn.
+ Ngôn từ bình dị và tinh tế.
+ Giọng điệu điềm đạm thâm trầm sâu sắc nhưng chứa đựng bao tình cảm yêu mến.
+ Câu văn giàu hình ảnh, gợi cảm, trong sáng,
3. Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm:
– Cả hai nhà văn đều cúi xuống những số phận nghèo khổ, bé mọn, yếu đuối trong xã hội để trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của họ, để khẳng định: dù có khổ đau, thiệt thòi đến mấy, người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé vẫn luôn giữ gìn phẩm chất cao đẹp, luôn bao dung, nhân hậu, vị tha.
– Dù cùng viết về người phụ xưa nhưng Thạch Lam dẫn dắt người đọc vào không phải bằng tình tiết, bằng những xung đột gay cấn mà bằng “ hành trình cảm giác” của trái tim; trong khi đó, Thanh Tịnh lại miệt mài theo dòng thời gian để chúng ta hình dung ra hành trình cuộc sống của nhân vật.
– Cả hai đoạn trích đều hấp dẫn nhưng mỗi đoạn mang sức cuốn hút riêng, khẳng định nét độc đáo riêng của mỗi phong cách.
III. Kết bài
Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh.
Bài làm tham khảo
Có những mảnh đời lấm láp sau rặng tre, gốc lúa nhưng lại lấp lánh trong dòng chữ, câu văn,… Có những Thảo, những Tâm hôm sớm đi về buổi chợ sáng, chợ chiều, buổi đò đông, đò vắng,… mà tấm lòng thơm thảo vẫn bao phủ lên những miền quê mẹ, những mái gianh nghèo. Thanh Tịnh và Thạch Lam đã dành hết những yêu thương cho những người con gái ấy. Trong Quê mẹ và Cô hàng xén chúng ta đã gặp những mảnh đời thực, những yêu thương chân thành nhưng chúng ta cũng bị hấp dẫn bởi những tài năng văn chương hết sức độc đáo.
Ở Quê mẹ, Thanh Tịnh kể chuyện người con gái Thảo đi lấy chồng xa, sống trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu. Một năm rồi cô mới được về quê mẹ ăn giỗ. Bao nhiêu mong nhớ, bao nhiêu thương yêu dồn nén, để rồi khi vừa về đến làng Quận Lão, Thảo được đón chào trong niềm vui rạng rỡ của họ hàng. Để mẹ cha yên lòng, để giữ gìn danh dự gia đình trước mắt bà con, cô cố tỏ ra phóng khoáng dù trong túi chỉ có vài hào ít ỏi. Đoạn trích tập trung khắc họa những tâm tư chồng chất của Thảo sau chuyến về quê ấy, niềm vui xen lẫn nỗi tủi cực và linh cảm về chặng đời tăm tối đang đợi mình nơi xứ người.
Còn Cô hàng xén của Thạch Lam lại đưa ta vào thế giới đời thường của Tâm – cô gái hiền lành, tần tảo, luôn gánh hàng ra chợ để nuôi sống gia đình và lo cho em trai ăn học. Lấy chồng theo lời mai mối, tưởng như cuộc sống có phần đổi thay, nhưng Tâm vẫn phải một mình gánh chịu bao lo toan: nhà chồng nghèo, mẹ chồng cau có, chồng thì nóng nảy và hay đòi hỏi tiền bạc. Đoạn trích miêu tả khoảnh khắc Tâm lấy tiền dành dụm lo sưu thuế cho chồng để đưa cho em trai, rồi trở về nhà trong buổi tối mịt mù, lòng nặng trĩu nỗi lo không biết sẽ bù đắp vào khoản tiền đã trao đi bằng cách nào.
Từ hai đoạn trích, có thể thấy một điểm gặp gỡ sâu xa giữa hai nhà văn: cùng hướng về những người phụ nữ nghèo trước Cách mạng. Họ đều sống trong cảnh khó nhọc, bị cái nghèo bủa vây, bị lễ giáo và bổn phận đè nặng. Nhưng vượt lên trên tất cả, họ mang trong mình một trái tim đằm thắm vị tha: Thảo thương mẹ, thương em đến mức sẵn sàng tiêu hết tiền dành dụm cả năm chỉ để người thân vui lòng; Tâm yêu gia đình, thương em trai đến mức quên cả trách nhiệm nặng nề đang chờ phía trước. Sau lũy tre làng yên bình, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam cứ âm thầm tỏa sáng như thế, hiền hậu, chịu thương chịu khó, bao dung và luôn biết hi sinh.
Cả Thanh Tịnh và Thạch Lam đều chọn cách viết nhẹ nhàng, không gay cấn nhưng đầy chất thơ và thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Họ soi vào hiện thực để tìm ra những vẻ đẹp đáng trân trọng nhất của con người. Bút pháp tự sự kết hợp trữ tình và ngôi kể thứ ba giúp câu chuyện trở nên khách quan, dung dị, đồng thời bộc lộ được chiều sâu tâm trạng nhân vật. Chính giọng văn đầm ấm và sự cảm thông sâu sắc của hai nhà văn đã khiến hình ảnh Thảo và Tâm trở nên sống động, chân thật, để người đọc cảm nhận được sự run rẩy nhẹ nhàng trong từng chuyển động của tâm hồn họ.
Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại có những nét riêng tạo nên sự khác biệt đáng suy ngẫm. Ở Quê mẹ, Thanh Tịnh miêu tả đời Thảo theo trình tự thời gian, gắn với những sinh hoạt thường ngày. Những hành động nhỏ như cho em năm xu, hứa mua quần áo Tết cho mẹ, khóc nức nở khi rời quê đã khắc họa một người phụ nữ giàu tình cảm gia đình. Ngôn ngữ mộc mạc, giọng văn đượm buồn khiến cuộc đời Thảo hiện ra như một dòng chảy bền bỉ của nỗi nhớ quê, nỗi thương cha mẹ và dự cảm về tương lai tăm tối. Hình ảnh “gạch đen dài của làng Quận Lão” như một dấu lặng rưng rưng, biểu tượng cho con đường trở về quê mẹ lúc nào cũng mịt mờ, xa vắng.
Với Cô hàng xén, Thạch Lam lại đi sâu vào thế giới nội tâm tinh tế của nhân vật. Những suy tư của Tâm trong buổi tối trở về, nỗi lo cơm áo, nỗi sợ bị chồng quát mắng, nỗi thương em và thương chính mình được miêu tả như một dòng chảy cảm xúc mong manh nhưng chân thực. Bút pháp giàu chất thơ của Thạch Lam khiến cảnh vật và tâm trạng hòa quyện: sương mù, gió lạnh, bóng tre làng… đều soi chiếu vào tâm hồn Tâm, khiến nàng nhìn thấu cả cuộc đời “như tấm vải thô sơ”. Câu văn nhẹ mà thấm, buồn mà đẹp, để lại trong lòng người đọc nỗi xót xa lặng lẽ nhưng sâu sắc.
Đặt hai đoạn trích cạnh nhau, ta càng hiểu rằng những người phụ nữ trước Cách mạng, dù ở làng Quận Lão hay ở làng Bàng, đều mang chung số phận nghèo nàn và nỗi lo cuộc mưu sinh đè nặng. Song chính trong gian khó ấy, họ vẫn giữ trọn vẻ đẹp của lòng hi sinh và phẩm chất cao quý. Thanh Tịnh ghi lại hành trình đời thường đầy nhọc nhằn của Thảo bằng giọng kể mộc mạc; còn Thạch Lam dẫn dắt người đọc qua từng lớp cảm giác, để nghe được những tiếng thở dài thầm lặng của Tâm. Mỗi tác phẩm có nét độc đáo riêng, nhưng đều chung một tấm lòng thương yêu đối với con người bé nhỏ.
Tâm và Thảo, những cô gái ấy không phải những con người của một thời, họ là những con người của mọi thời. Những yêu thương, những hi sinh, những lo toan vất vả,… tất cả những phẩm chất đó đã tạc lên bức tượng đài người phụ nữ Việt Nam để chúng ta mãi mãi trân quý, ngưỡng mộ và tôn vinh.
Chủ đề:Điểm chung của Quê mẹ và Cô hàng xén, Điểm giống nhau của Quê mẹ và Cô hàng xén, Lập dàn ý so sánh 2 tác phẩm Quê mẹ của Thanh Tịnh và Cô hàng xén của Thạch Lam, So sánh đánh giá 2 văn bản trích Quê mẹ và Cô hàng xén, So sánh tác phẩm quê mẹ và cô hàng xén, Viết bài văn nghị luận so sánh đánh giá 2 tác phẩm Quê mẹ và Cô hàng xén, Việt bài văn nghị luận so sánh đánh giá hai đoạn trích Quê mẹ và Cô hàng xén, Viết bài văn nghị luận so sánh đánh giá hai tác phẩm Quê mẹ và Cô hàng xén, Viết bài văn nghị luận so sánh đánh giá hai văn bản truyện Quê mẹ Cô hàng xén







