
Phân tích nhân vật Sài trong đoạn trích “Thời xa vắng” – Lê Lựu
(Tóm tắt: Giang Minh Sài sinh ra trong gia đình nho giáo, học giỏi, là niềm hi vọng của cả gia đình và dòng họ. Theo tư tưởng cũ, 12 tuổi Sài bị ép kết hôn với Tuyết – một cô gái hơn anh 3 tuổi. Sau đó Sài gặp và yêu Hương. Tuổi trưởng thành, Sài đăng kí nhập ngũ. Vào chiến trường, Sài là một cá nhân điển hình của đơn vị. Sau 11 năm ở chiến trường trở về, Sài li dị Tuyết, cưới Châu nhưng cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Cuối cùng. Sài về quê sống, tham gia phát triển quê hương mình).
Đoạn trích kể về những ngày đầu Sài vào chiến trường:
Vượt qua sông Bạc được một đêm Sài phải nằm lại. Đã ba ngày lên cơn sốt li bì bỏ cơm, đến chiều anh vẫn cuốn võng chống gậy ra đi. Đêm nay anh không còn biết gì nữa. Mắt đã dại đi, da tim bầm và quai hàm cứng ngắc không thể nuốt nổi chén sâm cô y tá vừa pha. Đợi tiêm một loạt ba mũi thuốc xong hai chiến sĩ của đơn vị phải ở lại cùng cô y tá, người còn lại cuối cùng ở bãi khách, khiêng Sài đến trạm quân y binh trạm cách đấy một ngày đường. Như tất cả những người chiến sĩ ra mặt trận lúc bấy giờ mục đích thiêng liêng và cao cả của họ là được giết giặc lập công nhưng hai người đã phải ở lại trạm quân y suốt sáu tháng trời. Khiêng Sài đến nơi, họ phải nuôi quân thay cho một cô nuôi quân bị thương trên đường đi lấy nước và một cô đang lên cơn sốt. Mới đầu do yêu cầu của trạm và không nỡ bỏ bạn đang từng giờ không biết sống chết ra sao, về sau trạm phải di chuyển liên miên và thương binh càng nhiều hai chiến sĩ nhận quyết định thành quân số chính thức của binh trạm 37.
Những ngày sốt liên miên, những cơn co giật của trận sốt ác tưởng không thể nào qua được, sáu tháng Sài mới ra khỏi bệnh viện. Anh được điều làm trung đội trưởng thuộc đại đội công binh giữ ngầm Ông Thao ở phía Nam Xê Băng Hiêng (1). […] Về đến đơn vị anh ra mặt đường ngay. Đại đội trưởng quyết định anh ở nhà nghỉ thêm một tuần. [..] Được nghỉ thêm ít ngày Sài có khỏe ra nhưng anh thèm rau quả và rất muốn đi kiếm, bất kể là rau gì. Còn là linh mới anh không thể vượt qua những núi đá và rừng cây đã bị chất độc hóa học làm chảy khô. Chiều ý anh, ngày hôm sau đại đội trưởng cho liên lạc dẫn Sài đi kiếm rau, kiếm măng, nấm và quả chua. Đi và về phải hai ngày nhưng cử mang ruốc, lương khô đủ tiêu chuẩn cho bốn ngày. Hai anh em khoác sủng, ba lô đi từ sáng sớm, khoảng quả chiều đã đến khu rừng thưa, cao ráo, phần nhiều là lim, săng lẻ và cây bông tàu tròn thẳng tuồn tuột, vỏ trắng nhợt nhưng lại rắn đinh. Cậu liên lạc tên là Thêm. Cậu ta đi thoăn thoắt, nói thoăn thoắt, dường như khu rừng này là vườn nhà của cậu ta. Chỗ nào có rau, con suối ở dưới chân chảy đi đâu, chỗ nào có nấm mới? Anh có thích uống mật ong không? Thôi để đến mai, lúc nào uống hết nước có bị động đựng mật ong ta mới “dứt điểm”. Cử tưởng cậu ta đã ở vùng này nhiều, sau mới biết là Thêm cũng chỉ đến đây lần đầu. Vừa tinh nhanh, vừa liều lĩnh, đi đến bất cứ chỗ nào Thêm cũng không bỏ qua một chi tiết nhỏ. Chỉ cần vài tiếng buổi chiều hai người đã lấy được một ba lô măng nửa và một bọc phải đến hai cân mộc nhĩ. Chuyến đi có thể gọi là vô cùng thắng lợi nếu không có trận mưa đêm mà họ không ngờ tới,…
Lược một đoạn: Sau cơn mưa, Sải và Thêm gặp một tốp phản lực ném bom. Thêm bị thương, máu ra nhiều, Sài cõng Thêm tìm về đơn vị.
Không hiểu mới nửa đêm hay đã gần sáng. Không hiểu mình đang nằm ở bãi biển hay trong gian buồng xây kín quanh năm ngày cũng như đêm! Chi thấy hơi lành lạnh ở lưng. Muốn giơ tay lên nhưng không tài nào nhấc nổi. Phải ú ớ như muốn giãy giụa, muốn vùng đạp mới mở được mắt ra. Sài sờ lên lưng. Không có Thêm. Quở ra xung quanh cũng không thấy. Mồ hôi anh tỏa ra, hai chân muốn khuỵu xuống. Anh bấm đèn loang loảng ra tứ phía. Chỗ nào cũng thấy um tùm đen tối, cũng như là nơi rình rập của kẻ địch. Định cất tiếng gọi, lưỡi rìu lại, cổ họng nghẹn khô, Sài không sao cất nổi một lời, dù là nhỏ nhoi. Sau phút choảng vảng, anh lội xuống suối bẩm đèn tìm bạn. Lội giật lùi được đến đầu gối nước anh nhận ra Thêm đang giang hai tay nằm sấp ở bờ suối. Sài mừng rỡ xô đến gọi bạn. Vừa chạm đến người Thêm, anh đã run bắn lên. Nhìn bạn gục xuống mặt nước anh hiểu vì sao nên nông nỗi này. Anh muốn kêu lên. Không kêu nổi. Anh muốn khóc, khóc không ra nước mắt. Nỗi căm giận chính mình trào lên trong anh. Bất chấp cả sợ hãi anh xốc bạn lên cổ cõng Thêm lội theo bờ suối. Lúc bấy giờ anh chưa hề có cảm giác hoặc không còn cảm giác là bạn đã chết, chỉ thấy có bạn trên lưng, anh thấy vững tâm hơn. Và cũng không hiểu, mãi sau này cũng không ai giải thích được tại sao anh lại công nổi người bạn đã hy sinh trên người luồn rừng, lội suối suốt mười lăm tiếng đồng hồ. Đến con đường giao liên, anh ngã vật ra. Hai người nằm nghiêng úp mặt vào nhau như hai người bạn tri kỉ đang trò chuyện, tay anh ôm ngang lưng bạn, và bạn gác cải chân bị thương qua người anh. Đến gần mới biết cả hai người lính trẻ ấy đều như đang ngủ rất ngon lành.
(1) Xê Băng Hiêng tên dòng sông bắt nguồn từ phía tây dãy núi Trường Sơn, ở địa phận xã Hướng Lập, huyện Hướng Hoa của tỉnh Quảng Tri, chạy về phía tây biên giới Lào – Việt.
(Trích Thời xa vắng, Lê Lựu, NXB Văn học, Hà Nội, 2021, tr.1140-118)
I. Mở bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề
II. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận
– Hoàn cảnh nhân vật:
+ Nhân vật Sài sinh ra trong bối cảnh XHVN thời kì bao cấp, nơi mọi giá trị cá nhân bị chi phối bởi tập thể và các quy tắc cứng nhắc
+ Anh buộc phải kết hôn với Tuyết – một người phụ nữ mà mình không yêu thương, điều này đã khởi đầu cho chuỗi bi kịch của đời anh.
– Ngoại hình:
+
– Vẻ đẹp nhân vật
+ Vẻ đẹp anh dũng, kiên cường: vượt qua sông Bạc để thực hiện nhiệm vụ; sẵn sàng vượt qua những khó khăn gian khổ quyết không lùi bước
+ Tình đồng đội, sự gắn kết giữa các chiến sĩ: mặc dù nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm nhưng Sài và các đồng đội vẫn hỗ trợ lẫn nhau để vượt qua; khi Thêm bị thương, Sài đã không ngần ngại cõng đồng đội về đơn vị, ngay cả khi Thêm đã ngừng thở, Sài đã cõng đồng đội mười lăm tiếng đồng hồ
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Nhân vật đặt trong hoàn cảnh éo le
+ Ngôn ngữ mang đậm chất trữ tình, chân thực, giàu cảm xúc
+ Ngôn ngữ độc thoại nội tâm góp phần làm nổi bật tính cách, tâm trạng nhân vật Sài
– Thông điệp từ tác phẩm
+ Sẵn sàng đối mặt với khó khăn trong mọi hoàn cảnh
+ Tình yêu thương là những nguồn năng lượng mạnh mẽ, bao trùm lên tất cả, là điểm tựa, là nguồn động viên, và mang đến niềm tin cho cuộc sống.
– …
III. Kết bài
Khẳng định/Đánh giá lại vấn đề nghị luận và mở rộng.
Bài làm tham khảo
Văn học Việt Nam sau năm 1975, nhiều nhà văn đã hướng ngòi bút của mình vào việc nhìn lại chiến tranh và số phận con người trong những biến động lớn của lịch sử. Lê Lựu là một trong những cây bút tiêu biểu với lối viết giàu chất hiện thực và chiều sâu tâm lí. Tiểu thuyết “Thời xa vắng” của ông không chỉ kể về những bi kịch đời tư của nhân vật Giang Minh Sài mà còn phản ánh những trăn trở về thân phận con người trong chiến tranh và thời hậu chiến. Trong đoạn trích kể về những ngày đầu Sài bước vào chiến trường, nhà văn đã khắc họa hình ảnh một người lính với nhiều phẩm chất đáng trân trọng: kiên cường, giàu trách nhiệm và đặc biệt là tình đồng đội sâu nặng.
Giang Minh Sài sinh ra trong một gia đình nho giáo, lớn lên trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời kì bao cấp, khi những quan niệm truyền thống và những chuẩn mực tập thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống cá nhân. Cuộc đời Sài ngay từ nhỏ đã chịu nhiều ràng buộc: mới mười hai tuổi anh đã bị ép kết hôn với Tuyết, một người con gái mà anh không có tình yêu. Những áp đặt ấy trở thành khởi đầu cho chuỗi bi kịch trong cuộc đời nhân vật. Khi trưởng thành, Sài nhập ngũ và bước vào chiến trường khốc liệt. Đoạn trích đã tái hiện những ngày đầu gian nan của anh nơi chiến trường Trường Sơn, nơi con người phải đối diện với bom đạn, bệnh tật và những thử thách sinh tử. Chính trong hoàn cảnh ấy, vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật được bộc lộ rõ nét.
Nhà văn khắc họa Sài trước hết qua những chi tiết chân thực về tình trạng cơ thể khi anh mắc bệnh sốt rét ác tính. Những hình ảnh như “mắt đã dại đi”, “da tím bầm”, “quai hàm cứng ngắc” hay việc anh không thể nuốt nổi chén sâm cho thấy sự tàn phá khốc liệt của bệnh tật nơi rừng sâu. Những cơn sốt li bì kéo dài khiến người lính trẻ tưởng chừng không thể vượt qua. Thế nhưng, dù trong tình trạng kiệt sức, Sài vẫn cố gắng “cuốn võng chống gậy ra đi”. Chi tiết nhỏ ấy lại gợi lên ý chí bền bỉ và tinh thần không chịu đầu hàng gian khổ của người lính. Sau sáu tháng điều trị, khi vừa hồi phục sức khỏe, Sài lập tức trở về đơn vị và nhận nhiệm vụ mới. Điều đó cho thấy tinh thần trách nhiệm và lòng quyết tâm của anh đối với nhiệm vụ chiến đấu.
Không chỉ hiện lên với vẻ đẹp kiên cường, Sài còn là người lính giàu tình nghĩa, đặc biệt là tình đồng đội thiêng liêng. Trong chuyến đi cùng người liên lạc tên Thêm để tìm rau, hai người lính trẻ nhanh chóng trở nên gần gũi, gắn bó. Giữa rừng sâu, những câu chuyện giản dị, những bước chân tìm măng, hái nấm đã tạo nên một không khí thân tình của tình đồng đội. Tuy nhiên, chiến tranh khốc liệt đã bất ngờ ập đến khi máy bay phản lực ném bom khiến Thêm bị thương nặng. Trong hoàn cảnh nguy hiểm và kiệt sức, Sài vẫn cõng bạn tìm đường trở về đơn vị. Khi nhận ra Thêm đã hi sinh, anh rơi vào trạng thái bàng hoàng, đau đớn: muốn kêu không được, muốn khóc cũng không ra nước mắt. Nỗi dằn vặt và cảm giác căm giận chính mình trào dâng trong tâm hồn người lính. Thế nhưng, vượt lên trên nỗi đau và sự sợ hãi, Sài vẫn cõng người bạn đã hi sinh suốt mười lăm tiếng đồng hồ, lội suối, luồn rừng để đưa bạn về. Hành động ấy không chỉ thể hiện ý chí phi thường mà còn là minh chứng xúc động cho tình đồng đội sâu nặng của những người lính trong chiến tranh. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng khiến con người có thể vượt qua cả giới hạn của sức lực và nỗi sợ hãi.
Qua việc khắc họa nhân vật Sài, Lê Lựu đã thể hiện tài năng nghệ thuật trong xây dựng nhân vật. Trước hết, nhà văn đặt nhân vật vào những hoàn cảnh thử thách khắc nghiệt của chiến tranh: bệnh tật, bom đạn, sự sống và cái chết cận kề. Chính hoàn cảnh ấy đã làm nổi bật phẩm chất và tính cách của người lính. Bên cạnh đó, tác giả đặc biệt chú trọng miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Những trạng thái bàng hoàng, đau đớn, dằn vặt của Sài khi phát hiện cái chết của Thêm được khắc họa tinh tế, chân thực, khiến người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi đau của con người trong chiến tranh. Ngôn ngữ trần thuật giản dị, giàu cảm xúc, kết hợp với những đoạn độc thoại nội tâm đã góp phần làm cho nhân vật hiện lên sống động và đầy sức ám ảnh.
Đoạn trích không chỉ khắc họa hình ảnh một người lính cụ thể mà còn gợi lên vẻ đẹp chung của thế hệ chiến sĩ trong chiến tranh. Họ là những con người dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hi sinh vì nhiệm vụ và vì đồng đội. Đồng thời, tác phẩm cũng gợi cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc về cái giá của chiến tranh và những mất mát thầm lặng mà con người phải gánh chịu.
Có thể nói, nhân vật Giang Minh Sài trong đoạn trích của “Thời xa vắng” hiện lên như một hình ảnh tiêu biểu của người lính Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh gian khổ. Bằng bút pháp hiện thực kết hợp với nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, Lê Lựu đã khắc họa thành công một nhân vật giàu nghị lực, giàu tình nghĩa và đầy nhân tính. Qua đó, tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của tình đồng đội mà còn nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay biết trân trọng những hi sinh thầm lặng của thế hệ đi trước.
