
Suy nghĩ về lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bối cảnh hiện nay – Đề luyện thi vào lớp 10 (có đáp án chi tiết)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
CHÚ CĂNG-GU-RU HẠNH PHÚC
Bạn có lúc nào tự hỏi, vì sao mình lại có một cái tên kèm theo bên cạnh tên đi học không? Đó là một cách nối dài yêu thương của ba mẹ bạn đấy.
Ồ, bạn đang rất ngạc nhiên, phải không? Nhưng tớ chắc chắn tới 99% là đúng thế. Có những cái tên cực kì dễ hiểu, như tên tớ: Hà Trang, vì bố tớ quê Hà Nội, mẹ quê Nha Trang. Để kỉ niệm nơi mình lớn lên bố mẹ tớ đặt tên tớ là Hà Trang, đủ thấy bố mẹ yêu tớ thế nào rồi nhé. Nhưng chưa đủ, mẹ tớ nói chim én là loài chim bé nhỏ nhưng đem lại nắng ấm, hạnh phúc cho mọi người, vì nó là loài chim báo mùa xuân và bởi thế, tên thân mật của tớ là “Én”.
Khi cái Trang Én nói với mọi người về cái tên của nó, cả đám bạn mắt hình chữ A, miệng hình chữ O, hết thảy đều mở to hết cỡ và gật đầu lia lịa. Điều lạ lùng này chúng chưa từng nghe thấy. Và cả đám hẹn nhau sẽ gặp lại vào chiều mai, chúng sẽ nói cho nhau nghe bí mật đằng sau cái tên của mình.
Thằng Tùng Căng vì lí do gì đó mà nó quên mất việc hệ trọng này. Tên Tùng thì nó hiểu là cây tùng, có lần mẹ nói với nó. Nó đã bốc lên nói với bạn bè mình rằng vì bố mẹ mong muốn nó mạnh mẽ như một cây tùng.
– Vậy còn Căng? Là quả bóng bị thổi căng và nổ cái “bùmmm” à?
Thằng Tùng đã cố làm ngơ nhưng thằng Lý Hớn nhất định không tha. Nó truy hỏi điều mà thằng Tùng không biết. Cả đám cười ha hả. Thằng Tùng mặt đỏ bừng bừng, quê đến mức sau buổi học về, nhất định đòi bố mẹ bỏ ngay cái tên Căng quái quỷ vô nghĩa ấy.
– Tên Căng không hề vô nghĩa đâu, con trai.
Giọng bố rất ấm vẫn không thể khiến thằng Tùng nguôi giận vì chiều nay bị “quê” trước đám bạn. Bố vào phòng, lấy cuốn album cũ thật cũ, lần mở cho nó xem.
– Con biết con Căng-gu-ru chứ?
– Dạ, con biết. – Thằng Tùng đáp, có một chút băn khoăn không hề nhẹ.
– Đây là hình bố chụp khi con mới ra đời. Lúc ấy mẹ còn trong phòng cấp cứu vì vết thương không thể cầm máu. Còn con, bé hơn tất cả các em bé sinh trong ngày đấy. Con chỉ được kí tám, trong khi các em bé bình thường phải trên dưới ba kí.
– Nhưng chuyện ấy liên quan gì tới con Căng-gu-ru?
– Rất liên quan. Để giúp con sống khỏe mạnh trong môi trường bình thường, bác sĩ đã bảo bố mẹ, ông bà phải ẵm con trước ngực bằng một cái túi thật êm, cho tới khi con có đủ sức khỏe. Vậy là da con cọ vào da bố mềm mịn, ấm áp, khiến bố rất hạnh phúc.
Lim dim mắt như hồi tưởng bằng vẻ mặt sung sướng, bố chỉ vào bức hình thằng Tùng bé xíu xiu như con mèo, nằm lọt thỏm trong cái khăn lông thật mềm được bà ngoại mang trước ngực. Bà ngoại cúi xuống nhìn nó thiu thiu ngủ, môi nở một nụ cười tươi, âu yếm. Thằng Tùng bất chợt nhớ ra hồi bé, nó quen hơi bà tới mức đi đâu xa bà một ngày là khóc ầm lên vì nhớ bà. Nhưng rồi lớn lên, bận bịu học hành, bạn bè… có khi bẵng đi cả tuần nó không qua thăm bà. Bà gọi điện nói chuyện có khi nó chỉ trả lời qua quýt. Tối đó, thằng Tùng đã gói ghém quần áo, sách vở, xin phép bố mẹ qua ngủ với bà ngoại, khiến cả nhà rất ngạc nhiên.
Chiều hôm sau, thằng Lý Hớn dám cá chắc cú với cả đám, rằng thằng Tùng Căng đã rất chán cái tên Căng. Nhưng thằng Tùng lại cười rất tươi. Nó kể về ý nghĩa cái tên độc đáo của mình. Đó là điều bất ngờ mà tụi bạn nó không đứa nào nghĩ ra.
– Cậu là chú Căng-gu-ru hạnh phúc nhất thế giới. Vì những chú Căng-gu-ru bình thường chỉ lớn lên trong một cái túi, còn cậu có nhiều cái túi. Túi của bố, của bà, của mẹ, của ông. – Cái Trang Én mau nước mắt, vừa nói vừa quệt vội nước mắt.
Lý Hớn mim mím môi cũng gật đầu: “Công nhận. Tên Căng hay thiệt”.
Tên của bạn cũng có thể là cái tên hay nhất đấy. Nếu bạn hiểu được ý nghĩa của nó, tớ tin rằng chẳng bao giờ bạn muốn bỏ nó.
(In trong 65 truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi, Võ Thu Hương, NXB Kim Đồng, 2022)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc” được kể theo ngôi kể nào? Ai là người kể chuyện?
Câu 2 (0,5 điểm). Trình bày điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc”.
Câu 3 (1,0 điểm). Tình huống nào trong truyện đã dẫn đến việc Tùng hiểu ra ý nghĩa tên “Căng” của mình? Phân tích vai trò của tình huống này trong việc phát triển cốt truyện.
Câu 4 (1,0 điểm). Trong câu văn: “Lim dim mắt như hồi tưởng bằng vẻ mặt sung sướng, bố chỉ vào bức hình thằng Tùng bé xíu xiu như con mèo, nằm lọt thỏm trong cái khăn lông thật mềm được bà ngoại mang trước ngực”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ này trong việc khắc hoạ hình ảnh và cảm xúc của nhân vật.
Câu 5 (1,0 điểm). Anh/chị rút ra thông điệp gì sau khi đọc xong văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc”?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm).
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ), phân tích nhân vật cậu bé Tùng trong văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc” của Võ Thu Hương (phần Đọc hiểu).
Câu 2 (4,0 điểm).
Trong bài báo “Biến mái nhà thành lá cờ Tổ quốc: Trào lưu thấm đẫm niềm tự hào dân tộc” đăng trên báo điện tử Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, số ra ngày 15/08/2024 có viết: “Trào lưu này nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình và lan tỏa rộng khắp các nền tảng mạng xã hội; minh chứng cho dòng máu Lạc Hồng vẫn sục sôi trong huyết quản mỗi con dân nước Việt”.
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bối cảnh hiện nay. Từ đó, hãy đề ra giải pháp để phát huy lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong thời đại mới.
GỢI Ý:
Câu 1.
– Văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc” được kể theo ngôi kể thứ ba.
– Người kể chuyện giấu mặt, đóng vai trò là người quan sát và là người kể lại câu chuyện.
Câu 2.
– Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc” phỏng theo nhân vật Tùng.
Câu 3.
– Tình huống trong truyện đã dẫn đến việc Tùng hiểu ra ý nghĩa tên “Căng” của mình là: Khi bị các bạn trêu chọc.
-> Đây là khởi đầu cho việc Tùng đi tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa của tên mình.
– Tình huống này đóng vai trò vô cùng trong truyện bởi nó là động lực khiến Tùng trò chuyện với Bố; từ đó mà khám phá ra sự thật về cái tên của mình.
– Thông qua tình huống này, tác giả đã phát triển cốt truyện và đã khơi dậy những giá trị về tình cảm gia đình.
Câu 4.
– Trong câu văn: “Lim dim mắt như hồi tưởng bằng vẻ mặt sung sướng, bố chỉ vào bức hình thằng Tùng bé xíu xiu như con mèo, nằm lọt thỏm trong cái khăn lông thật mềm được bà ngoại mang trước ngực”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ: So sánh (so sánh Tùng bé xíu xiu như con mèo).
– Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
+ Nhấn mạnh sự nhỏ bé, dễ thương của Tùng lúc mới sinh.
+ Giúp người đọc hình dung rõ hơn về kích thước của Tùng và tạo cảm giác gần gũi, yêu thương trong lòng người đọc.
+ Làm nổi bật sự quan tâm, tình cảm yêu thương của bố và bà ngoại dành cho cậu.
Câu 5.
– Thông điệp mà tác giả Võ Thu Hương muốn gửi gắm sau khi đọc xong văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc” là:
+ Tình yêu thương gia đình là vô giá.
+ Ý nghĩa sâu xa của mỗi cái tên bởi mỗi cái tên không chỉ là một cách gọi đơn thuần mà còn chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc, là sợi dây gắn kết tình cảm và ẩn sâu trong đó mong ước tốt đẹp của cha mẹ muốn gửi gắm cho con mình.
+ Việc ta hiểu và trân trọng tên gọi của mình cũng chính là cách thể hiện sự trân trọng tình yêu thương, sự che chở của gia đình dành cho mình.
+ Qua câu chuyện của Tùng và tên gọi “Căng”, tác giả cũng muốn nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng những giá trị tinh thần mà gia đình mang lại bởi đó là nền tảng vững chắc giúp mỗi người trưởng thành và hạnh phúc hơn trong cuộc sống.
II. VIẾT
Câu 1:
a. Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn (khoảng 200 chữ).
– Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, song hành hoặc móc xích.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Phân tích nhân vật cậu bé Tùng trong văn bản “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc” của Võ Thu Hương.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu
HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận; nêu rõ lý do và quan điểm của bản thân; đưa ra luận điểm chính xác, lập luận chặt chẽ, sử dụng dẫn chứng thuyết phục.
Sau đây là một số hướng dẫn:
*Mở đoạn: Giới thiệu nhân vật Tùng và vai trò của nhân vật trong câu chuyện.
Cậu bé Tùng là nhân vật chính trong truyện “Chú Căng-gu-ru hạnh phúc”. Tùng là một cậu bé mang tên gọi đặc biệt và trải qua sự thay đổi trong suy nghĩ cũng như cảm xúc sau khi hiểu ra ý nghĩa tên mình.
*Thân đoạn:
– Phân tích những đặc điểm nổi vật của nhân vật Tùng:
+ Tính cách ban đầu: Tùng là một cậu bé nhạy cảm, dễ tổn thương. Khi bị các bạn trêu chọc vì không hiểu ý nghĩa của tên gọi “Căng” → Cậu cảm thấy xấu hổ và buồn bã, dẫn đến việc muốn bỏ cái tên này.
+ Sự thay đổi trong suy nghĩ và cảm xúc:
++ Sau khi nghe bố giải thích về nguồn gốc và ý nghĩa của tên “Căng”, Tùng nhận ra rằng: Tên mình gần liền với một kỷ niệm đặc biệt của gia đình. Từ đó, cậu trở nên tự hào và yêu quý cái tên “Căng” hơn.
++ Cảm xúc của Tùng thay đổi từ sự xấu hổ, giận dỗi sang vui và tự hào. Điều này cho thấy Tùng là một cậu bé biết lắng nghe, suy nghĩ và trân trọng tình cảm gia đình.
– Phân tích hành động của Tùng sau khi hiểu ra ý nghĩa của tên gọi:
+ Sự thay đổi trong hành động:
++ Sau khi hiểu rõ ý nghĩa của tên gọi, Tùng không còn cảm thấy tự ti trước bạn bè. Thay vào đó, cậu tự tin chia sẻ câu chuyện của mình và cảm thấy hạnh phúc vì tên gọi đặc biệt này.
++ Hành động quyết định gói ghém quần áo, sách vở để sang ngủ với bà ngoại cho thấy Tùng đã nhận ra tầm quan trọng của tình yêu thương gia đình và muốn gắn kết hơn với người thân.
*Kết đoạn: Khái quát về nhân vật Tùng.
Nhân vật Tùng không chỉ là đại diện cho sự hồn nhiên, trong sáng của tuổi thơ mà còn thể hiện quá trình nhận thức và trưởng thành trong tình cảm. Thông qua câu chuyện của Tùng, người đọc cảm nhận được thông điệp về tình yêu thương và sự trân trọng giá trị của gia đình.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng đúng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận xã hội. Có đủ ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài. Phần mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
c. Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
HS triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm, mỗi luận điểm có sự logic.
HS có thể giải quyết vấn đề theo hướng sau:
*Mở bài:
– Giới thiệu vấn đề nghị luận:
+ Dẫn dắt từ hiện tượng xã hội nổi bật: Trào lưu biến mái nhà thành lá cờ Tổ quốc nhận được sự hưởng ứng rộng rãi từ cộng đồng.
+ Nêu lên vấn đề cần nghị luận: Lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
– Nêu luận điểm chính: Khẳng định lòng yêu nước và tự hào dân tộc là những giá trị cốt lõi của con người Việt Nam, cần được giữ gìn và phát huy trong mọi hoàn cảnh.
*Thân bài:
Luận điểm 1: Ý nghĩa của lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
– Giải thích khái niệm:
+ Lòng yêu nước là tình cảm sâu sắc, thiêng liêng đối với đất nước, thế hiện qua sự trân trọng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.
+ Tự hào dân tộc là cảm giác vinh dự, kiêu hãnh về lịch sử, văn hóa, thành tựu của dân tộc.
– Phân tích tầm quan trọng:
+ Lòng yêu nước và tự hào dân tộc là động lực thúc đẩy mỗi cá nhân cống hiến cho sự phát triển của đất nước.
+ Là nền tảng vững chắc để duy trì đoàn kết dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Luận điểm 2: Biểu hiện của lòng yêu nước và tự hào dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
– Trong đời sống hàng ngày: Những hành động nhỏ như treo cờ Tổ quốc, tham gia các phong trào tình nguyện, bảo vệ môi trường, thể hiện tình yêu đất nước.
– Trên các nền tảng mạng xã hội:
+ Lan tỏa các giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc, ủng hộ các chiến dịch cộng đồng như biến mái nhà thành lá cờ Tổ quốc.
+ Bảo vệ hình ảnh đất nước trước những thông tin sai lệch, phản biện các quan điểm tiêu cực.
– Trong giáo dục và công việc:
+ Tích cực học tập, làm việc, sáng tạo, cống hiến để đưa Việt Nam vươn lên trên trường quốc tế.
+ Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong mọi hoạt động.
Luận điểm 3: Thách thức và giải pháp để phát huy lòng yêu nước và tự hào dân tộc trong thời đại mới.
– Thách thức:
+ Sự ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai có thể làm phai nhạt dần bản sắc dân tộc.
+ Một số người trẻ chưa hiểu rõ giá trị của lòng yêu nước, dễ bị cuốn theo những xu hướng tiêu cực.
– Giải pháp:
+ Đẩy mạnh giáo dục về lịch sử, văn hóa, truyền thống dân tộc trong nhà trường và gia đình.
+ Tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng nhằm khơi dậy lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
+ Khuyến khích mời cá nhân tự tìm hiểu, trau dồi và tự hào về cội nguồn của mình.
*Kết bài:
– Khẳng định lại vấn đề: Lòng yêu nước và tự hào dân tộc là những giá trị không thể thiếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là Việt Nam.
– Kêu gọi hành động: Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nuôi dưỡng và thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc thông qua những hành động thiết thực, dù nhỏ bé nhưng có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng đúng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Chủ đề:Đề luyện thi vào 10 môn Văn, Đề thi thử Văn vào 10 Hà Nội 2026, De thi thử vào 10 môn văn Hà Nội, Đề thi Văn vào 10 chương trình mới, De thi vào 10 môn Văn Hà Nội, File đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn 2026, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn có đáp an, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Hà Nội
