
Phân tích đoạn thơ “Điều cô chưa nói” (Hà Thị Hạnh) – Đề luyện thi vào lớp 10
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
ĐIỀU CÔ CHƯA NÓI
Trời đã không mưa cho tới buổi chiều nay
Các em đẹp bất ngờ buổi sáng ngày bế giảng
Cái khoảnh khắc em cầm sen tạo dáng
Thướt tha áo dài điệu múa ở đằng xa
Sau sân trường này sẽ là những ngã ba
Các em phải đi và tự mình chọn lựa
Lắm chông gai và cũng nhiều lời hứa
Cám dỗ em, em phải biết giữ mình
Đời người tránh sao được những phút “chùng chình”
Ai cũng có một “bến quê” để lãng quên rồi mơ ước
Mong em bình tâm trước những điều mất được
Và bền gan đi đến cuối hành trình
Trái tim em thao thức một mối tình
Mối tình nói hay mối tình chưa ngỏ
Những hạnh phúc ngọt ngào hay phút giây lầm lỡ
Những nỗi nhớ không lời, những cảm xúc không tên
Và giấc mơ theo điệu múa cháy lên
Cô ở lại, cánh chim bay đi nhé
Lau nước mắt đi những tâm hồn rất trẻ
Ngoài cửa sổ này, chân trời mới đợi em
(“Điều cô chưa nói”- Hà Thị Hạnh, Trích Văn học và Tuổi trẻ, số 5+ 6 năm 2014, tr 64 )
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm).Vẻ đẹp của “em” trong ngày bế giảng hiện lên qua những hình ảnh nào?
Câu 3 (1,0 điểm). Tác giả muốn gửi gắm tâm sự gì qua hai câu thơ:
“Lau nước mắt đi những tâm hồn rất trẻ
Ngoài cửa sổ này, chân trời mới đợi em”
Câu 4 (1,0 điểm). Hai câu thơ sau sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
“Những hạnh phúc ngọt ngào hay phút giây lầm lỡ
Những nỗi nhớ không lời, những cảm xúc không tên”
Câu 5 (1,0 điểm). Em có đồng tình với quan điểm của tác giả trong câu thơ “Sau sân trường này sẽ là những ngã ba/ Các em phải đi và tự mình chọn lựa” không? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích bốn câu thơ cuối của văn bản Điều cô chưa nói được trích trong phần đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm).
Từ nội dung phần đọc hiểu, hãy viết bài văn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: Tuổi trẻ cần sống có bản lĩnh để dám đương đầu với mọi khó khăn thử thách.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu 1 Thể thơ: Tự do
Câu 2 Vẻ đẹp của “em” trong ngày bế giảng hiện lên qua những hình ảnh: em cầm sen tạo dáng, thướt tha áo dài điệu múa
Câu 3 Qua hai câu thơ: Lau nước mắt đi những tâm hồn rất trẻ/Ngoài cửa sổ này, chân trời mới đợi em, người cô bộc lộ tình cảm yêu mến, xúc động, niềm tin, niềm hi vọng vào các em học sinh cuối cấp – thế hệ trẻ của đất nước. Đó cũng là lời nhắn nhủ, động viên các em về con đường rộng mở, tương lai tươi sáng phía trước.
Câu 4 Biện pháp nghệ thuật: Điệp ngữ “Những…”.
Tác dụng: Nhấn mạnh những cung bậc cảm xúc của “em” đã từng trải qua trong đời người học sinh.
Câu 5 – HS đưa ra quan điểm: Đồng ý
– Khác với môi trường học tập được thầy cô hướng dẫn và bảo ban, khi bước ra cuộc sống, các em sẽ đối mặt với vô số con đường khác nhau. Lúc này, chính các em sẽ là người quyết định tương lai của mình. Chỉ bản thân mới có thể hiểu rõ chính mình và lựa chọn hướng đi phù hợp. Dù có gặp phải khó khăn, hãy luôn giữ vững niềm tin và tiếp tục tiến bước. Hãy luôn lạc quan và nở nụ cười hạnh phúc, thành công sẽ đến với bạn.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1 * Hình thức: Là một đoạn văn hoàn chỉnh (khoảng 200 chữ) diễn đạt mạch lạc, đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, có câu khái quát nội dung đoạn văn.
* Nội dung: Biết khai thác các tín hiệu nghệ thuật đặc trưng của thơ (từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, giọng thơ, biện pháp nghệ thuật…) để làm rõ nội dung đoạn thơ:
– Hình ảnh ẩn dụ “cánh chim bay đi” để tượng trưng cho sự trưởng thành và rời xa của học sinh khi các em bước vào cuộc sống sau này.
– Cô vẫn luôn đứng phía sau ủng hộ, động viên, dõi theo các em
– Hình ảnh “chân trời mới” như một điểm đến đầy hứa hẹn cho tương lai của các em và đó cũng chính là niềm tin, hy vọng cô giáo đặt vào học trò của mình
– Lời động viên, khích lệ học sinh cần cố gắng, mạnh mẽ, vượt qua những khó khăn, chông gai thử thách.
Câu 2 * Hình thức:
Là một bài văn nghị luận xã hội (khoảng 400 chữ); đảm bảo bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài); lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng phù hợp, diễn đạt mạch lạc, rõ ý, đúng chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
* Nội dung:
I. Mở bài
Nêu được vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ cần sống có bản lĩnh để dám đương đầu với mọi khó khăn thử thách.
II. Thân bài
– Bản lĩnh: là khả năng đương đầu với khó khăn, giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách bình tĩnh, thông minh và tỉnh táo. – Bên cạnh đó, bản lĩnh còn là lòng dũng cảm, kiên trì, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm
→ Bản lĩnh là một đức tính vô cùng tốt đẹp mà con người ai cũng cần rèn luyện cho bản thân.
– Người có bản lĩnh là người dám nghĩ dám làm, không ngại khó khăn, gian khổ, thử thách, sẵn sàng đứng ra chịu trách nhiệm cho cuộc sống của mình.
– Người có bản lĩnh cũng là người làm việc có mục tiêu, có kế hoạch, biết sắp xếp cuộc sống khoa học.
– Bản lĩnh của con người được hun đúc từ kinh nghiệm của cuộc sống, người có bản lĩnh là người có vốn sống phong phú, có kinh nghiệm trong nhiều vấn đề từ đó giải quyết mọi chuyện một cách tinh tế.
– Cuộc sống có rất nhiều những khó khăn thử thách có thể đến với ta bất cứ lúc nào mà chúng ta không lường trước được, bản lĩnh sẽ khiến chúng ta trở nên kiên cường hơn, mạnh mẽ hơn, có thể vượt qua những khó khăn ấy một cách mượt mà nhất.
– Chứng minh
Học sinh tự lấy dẫn chứng về những con người sống có bản lĩnh và đạt được thành công vang dội để minh họa cho bài làm của mình.
– Bên cạnh đó vẫn còn có nhiều người nhút nhát, dễ bỏ cuộc, sợ thất bại, gặp chút khó khăn đã nản chí. Lại có những người chỉ sống trong vùng an toàn của bản thân mà không biết vươn lên, bứt phá, tạo thành tựu cho cuộc sống của mình.
– Liên hệ bản thân.
III. Kết bài
Khẳng định vấn đề cần nghị luận.
Chủ đề:Đề thi thử Văn vào 10 Hà Nội 2026, Đề thi thử vào 10 môn Văn Nghệ An, Đề thi Văn vào 10 chương trình mới, Đề thi văn vào 10 Hà Nội, Đề thi vào 10 môn Văn các tỉnh, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn, File đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn 2026, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn có đáp an
