
So sánh, đánh giá hai đoạn trích ” Đêm làng Trọng Nhân” của Sương Nguyệt Minh và “Lời hứa của thời gian” của Nguyễn Quang Thiều
Đoạn trích thứ nhất:
(Giới thiệu sơ lược về tác phẩm: Truyện kể về nhân vật Tường – Tường đã lập gia đình và đi bộ đội hơn sáu năm không có tin tức gì. Hòa bình, anh may mắn còn sống sót trở về làng với gương mặt “đã chết” khó mà nhận ra. Mặc cảm với điều đó, anh đã tự giới thiệu mình với mọi người ở làng là bạn chiến đấu của anh Tường ghé thăm. Đoạn trích dưới đây đã tái hiện lại rõ nét những cảm xúc, tâm trạng của Tường khi sắp về tới nhà.)
Tối chạng vạng.
Tường bước vội trên con đường lát gạch về làng Trọng Nhân. Hơn sáu năm đi xa, chắc bây giờ mẹ anh già lắm. Có già như bà Còm không. Anh đổi khác, mẹ anh có nhận ra không. Còn bố anh có còn đi làm thợ thùng đào, thùng đấu nữa không. Cái nghề ấy khổ lắm bố ơi. Và Thương nữa! Tường nhớ lại cây đa hai trăm tuổi đã nhiều lần chứng kiến tình yêu của anh. Ôi! Những giọt trăng lọt qua kẽ lá rơi xuống tóc, vai Thương. Mùi hương bưởi thoảng bay ra từ suối tóc mây.
(Lược trích: Lòng anh rạo rực. Anh tưởng tượng cảnh cha mẹ và vợ sẽ vui biết chừng nào khi gặp lại anh. Nhưng vừa tới ngõ, Tường đã nghe được câu chuyện giữa cha mình và vợ.)
– Chị Thương! Có tắm thì ào đi còn ăn cơm. Bà ấy không về đâu.
Tường bừng tỉnh. Đúng là tiếng bố rồi.
– Thầy cứ uống rượu trước đi. U cũng bảo con vài hôm u mới về.
Tiếng nói của Thương vẫn như xưa, dịu dàng và đằm thắm.
– Bố rất quý cái nết anh giáo Mười. Anh giáo với con ở đây bố mẹ yên tâm lúc tuổi già. Anh giáo cũng giản dị, đã đi lính rồi nên dễ thông cảm.
Tai Tường ù đi. Chiến tranh. Xa cách. Mất mát. Chia ly và chiến thắng. Anh rùng mình nhớ lại: ánh mắt trố ra kinh ngạc của cô gái, lời bà Còm, tiếng kêu kinh ngạc của thằng bé, cái mặt ông ác, tiếng nói của cha. Lòng anh quặn lại. Ngôi nhà bỗng trở nên xa lạ…
Tường quay đầu, khoác ba lô đi ra đường. Tường vấp ngã. Anh luống cuống ngồi dậy. Nước mắt tự nhiên ứa ra. Anh cứ đi, bước thấp, bước cao, hẫng hụt.
(Trích Đêm làng Trọng Nhân, Sương Nguyệt Minh, NXB Quân đội nhân dân, 1998)
Đoạn trích thứ hai:
(Giới thiệu sơ lược về tác phẩm: Truyện kể về ông Miêng – một người lính bước ra khỏi cuộc chiến với nhiều thương tổn. Ông là người duy nhất của đơn vị sống sót, đồng đội đã nằm lại trên đồi. Hoà bình lập lại, ông về sống tại khu đồi xưa là chiến trường, trồng cây, canh giấc cho những người đã ngã xuống. Bất hạnh liên tiếp bủa vây ông khi con bị dị dạng và chết, vợ bỏ đi …)
Rồi vợ ông mang thai, ông ôm vợ và nói: “Chúng mình sẽ có một thằng con trai. Vùng đồi này sẽ có thêm một người và ông có thêm một người trồng thông”. Nhưng ngày vợ ông sinh là ngày khủng khiếp nhất đời ông. Đứa bé không thành người. Nó chết ngay sau khi được sinh ra. Ông đã bọc đứa con trong chiếc áo lính bạc trắng của mình và đi quá nửa ngày đường xe trâu đưa đứa bé về vùng đồi. Ông chôn đứa bé trên đỉnh đồi nơi cả tiểu đội của ông đã nằm ở đó. Những ngày sau đó thỉnh thoảng ông để cho vợ đánh chiếc xe trâu lọc cọc về thị xã chơi với người quen cho khuây khoả. Còn ông lại lao vào trồng thông từ sáng đến tối. Vợ ông xuống thị xã và đôi khi ở lại vài ba ngày. Nhiều đêm chị hoảng hốt đòi ông trở về quê. Nhưng ông chỉ im lặng. Ông quyết liệt trồng thông phủ kín những quả đồi và quyết liệt có con. Vợ ông mỗi ngày một ít nói và đánh xe trâu về thị xã nhiều hơn. Cho đến một ngày, ông không thấy vợ trở về. Ông về thị xã tìm vợ. Vợ ông để lại chiếc xe trâu ở nhà người quen cùng với lời xin ông tha thứ và vĩnh biệt ông. Vợ ông đã không chịu nổi cuộc sống ngày dương đêm âm của vùng đồi. Và chị quá sợ hãi phải sinh nở với ông. Ông chỉ có thể sinh ra những đứa trẻ không thành người. Chị đã bỏ ông, bỏ vùng đồi đi theo một người đàn ông khác mà chị gặp trong những lần đánh xe trâu về thị xã.
Ông chết lặng khi nghe tin ấy. Và lần đầu tiên trong đời ông thấy mình như không còn một chút sức lực nào nữa. Ông tựa vào con trâu và run lẩy bẩy. Ông không đi tìm vợ. Ông cũng không có ý đánh xe trở về vùng đồi. Ra khỏi thị xã. Ông nằm xuống thùng xe và mặc cho con trâu kéo cỗ xe đi về đâu thì đi. Ông nằm trên đống cỏ đã héo khô trên thùng xe, người như lên cơn sốt. Mặt trời dần tắt. Bóng tối phủ dần lên con đường. Con trâu vẫn kiên nhẫn bước đi từng bước.
(Trích Lời hứa của thời gian, Nguyễn Quang Thiều, Tuyển tập truyện ngắn 75 gương mặt Văn nghệ, NXB Hội nhà văn, 2023, tr.551)
I. Mở bài
– Dẫn dắt và giới thiệu đối tượng so sánh: tên ha tác phẩm, hai tác giả
– Nêu vấn đề cần so sánh
II. Thân bài
1. Khái quát chung
– Giới thiệu vài nét về hai tác giả
– Giới thiệu vài nét về hai tác phẩm
+ Hoàn cảnh ra đời
+ Đề tài, cốt truyện, nhân vật chính
2. Điểm giống nhau của hai đoạn trích về nội dung, nghệ thuật.
– Đề tài và chủ đề hai tác phẩm có nhiều điểm tương đồng:
+ Đều viết về cuộc đời, số phận, phẩm chất của những người lính thời hậu chiến: Họ đều là những người lính kiên cường trong cuộc chiến, bước ra khỏi chiến tranh với nhiều thương tổn, mất mát; hoà bình lập lại vẫn tiếp tục chịu nhiều bất hạnh, thiệt thòi.
+ Nhà văn thể hiện thái độ vừa lên án chiến tranh vừa cảm thông trước những thiệt thòi, mất mát; đồng thời trân trọng sự hi sinh, vị tha của họ.
– Nghệ thuật:
+ Người kể chuyện ngôi thứ ba, là người kể chuyện toàn tri, giúp cho cuộc đời nhân vật hiện lên vừa khách quan vừa chân thực, cụ thể.
+ Ngôn ngữ, giọng điệu, cách miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc.
3. Những điểm khác biệt của hai đoạn trích về nội dung, nghệ thuật:
+ Cách xây dựng nhân vật: Tường được khắc họa ở phẩm chất vị tha, sự tự ti về chính mình: Do mặc cảm về hình hài của bản thân nên anh nén tình cảm của mình lại, muốn bỏ đi để giữ gìn sự bình yên và hạnh phúc của những người thân yêu…; Ông Miêng là người tình sâu nghĩa nặng, một người lính trung tín; tính cách có phần trầm lặng, cô độc
+ Cách xây dựng cốt truyện: Sương Nguyệt Minh đặt nhân vật vào những tình huống éo le buộc phải lựa chọn; Nguyễn Quang Thiều để nhân vật lựa chọn hoàn cảnh sống, lí tưởng sống của mình…
4. Lí giải điểm tương đồng, điểm khác biệt: quan điểm, phong cách, …
5. Đánh giá chung:
+ Chủ đề của hai tác phẩm: Đoạn trích khắc hoạ thân phận éo le, ngang trái của người lính trở về sau chiến tranh, từ đó nhà văn thể hiện thái độ cảm thông trước những thiệt thòi, mất mát; đồng thời trân trọng sự hi sinh, vị tha của họ.
+ Số phận và tính cách của các nhân vật tiêu biểu cho thân phận và vẻ đẹp của những người lính thời hậu chiến.
III. Kết bài
Khẳng định ý nghĩa của so sánh, đánh giá hai tác phẩm. Nêu ấn tượng của bản thân
Bài làm tham khảo
Ai đó đã từng nói: “Tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Phải chăng vì vậy mà ta có thể bắt gặp nhiều nghệ sĩ có phong cách hoàn toàn khác nhau trên cùng một giao lộ của hành trình kiếm tìm và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người. Tác giả Sương Nguyệt Minh với truyện ngắn Đêm làng Trọng Nhân và tác giả Nguyễn Quang Thiều với tác phẩm Lời hứa của thời gian là một trường hợp như vậy. Qua hai đoạn trích, hình ảnh người lính sau chiến tranh hiện lên với những tổn thương, mất mát cùng vẻ đẹp của tình yêu thương, lòng vị tha và sự thủy chung, để lại trong lòng người đọc những dư âm vừa xót xa vừa trân trọng.
Sương Nguyệt Minh là cây bút quân đội có cái nhìn tinh tế, sắc sảo trước những nghịch lí đời thường. Nguyễn Quang Thiều lại là nhà văn giàu sức sáng tạo, thường đi sâu khám phá những ám ảnh của con người. Đêm làng Trọng Nhân kể về Tường, người lính sau hơn sáu năm xa nhà trở về với hình hài đổi khác. Lời hứa của thời gian kể về ông Miêng, người duy nhất sống sót của đơn vị, ở lại vùng đồi chiến trường xưa để trồng thông và gìn giữ kí ức về đồng đội. Hai câu chuyện mở ra hai cảnh đời riêng nhưng cùng cho thấy một nghịch lí đau xót: người lính trở về từ chiến tranh vẫn phải tiếp tục đối diện với những mất mát trong cuộc sống thường nhật.
Trên con đường về làng, Tường mang theo niềm vui đoàn tụ. Anh nhớ mẹ, thương cha, nhớ Thương và nâng niu những kỉ niệm dưới cây đa, bên “mùi hương bưởi”. Thế nhưng chỉ một cuộc trò chuyện đã khiến giấc mơ đoàn viên tan vỡ. Những từ ngữ “Chiến tranh. Xa cách. Mất mát. Chia ly và chiến thắng” như từng nhát cắt vào tâm hồn anh. Chiến thắng đem lại hòa bình nhưng chẳng thể trả Tường về nguyên vẹn với mái ấm xưa. Anh lặng lẽ quay đi, “nước mắt tự nhiên ứa ra”, bước chân “hẫng hụt”. Nỗi đau của Tường vì thế vừa là nỗi đau của một người lính mất đi mái ấm, vừa là lời tố cáo những dư chấn khắc nghiệt mà chiến tranh để lại.
Ông Miêng lại chịu một chuỗi bi kịch dai dẳng hơn. Đứa con chào đời rồi mất, người vợ cũng rời bỏ ông vì không chịu nổi cuộc sống nơi vùng đồi. Ông bọc con trong “chiếc áo lính bạc trắng”, đưa lên chôn cùng đồng đội; rồi “quyết liệt trồng thông” như muốn phủ xanh miền đất chết và níu giữ sự sống. Khi người vợ ra đi, ông “chết lặng”, nằm trên thùng xe, mặc cho con trâu kéo đi giữa lúc “mặt trời dần tắt”. Nếu Tường đau đớn mà lặng lẽ lựa chọn ra đi thì ông Miêng chìm vào sự cô độc và buông xuôi. Hai cách biểu hiện khác nhau cùng làm nổi bật thân phận nhỏ bé của con người trước những vết thương hậu chiến.
Đằng sau bi kịch là vẻ đẹp đáng trân trọng. Tường không trách móc hay tranh giành, chấp nhận nhận phần đau về mình để người thân được bình yên. Ông Miêng thủy chung với đồng đội, với vùng đất từng chứng kiến sự hi sinh của họ, bền bỉ gieo những mầm thông như gieo hi vọng lên miền đất chết. Hai nhân vật vì thế vừa đáng thương vừa đáng kính, mang vẻ đẹp của những con người đã hi sinh quá nhiều cho chiến tranh.
Hai tác giả cũng tạo dấu ấn riêng trong nghệ thuật. Sương Nguyệt Minh xây dựng Tường qua một tình huống bất ngờ, giàu kịch tính, sử dụng đối thoại và những biến chuyển tâm lí tinh tế. Nguyễn Quang Thiều triển khai bi kịch ông Miêng qua chuỗi mất mát, kết hợp những chi tiết giàu tính biểu tượng như vùng đồi, hàng thông, chiếc xe trâu và bóng tối. Cả hai cùng sử dụng ngôi kể thứ ba, đi sâu vào nội tâm nhân vật, nhưng mỗi người lại lựa chọn một giọng điệu riêng để diễn tả nỗi đau.
Hai đoạn trích khép lại bằng những hình ảnh khiến người đọc day dứt: Tường bước đi trong nước mắt, ông Miêng nằm bất động trên thùng xe giữa bóng chiều đang tắt. Qua hai số phận ấy, Sương Nguyệt Minh và Nguyễn Quang Thiều nhắc người đọc nhớ đến cái giá của chiến tranh và biết trân trọng hơn giá trị của hòa bình. Văn chương đã làm được điều đẹp đẽ nhất: giúp những số phận tưởng như nhỏ bé ấy được nhìn thấy, được thấu hiểu và được nhớ đến. Và từ những trang văn ấy, ta càng biết trân trọng hơn giá trị của hòa bình, bởi để có được bình yên ấy ta phải đánh đổi bằng biết bao tuổi trẻ, tình yêu và những cuộc đời.
