
Phân tích vẻ đẹp của nhân vật người mẹ trong đoạn trích “Gọi con” của nhà văn Bảo Ninh
(Lược một đoạn: Khi đất nước có chiến tranh thì anh trai, chị gái và Tân đều lên đường đi du học nước ngoài. Chỉ có Nghĩa, cậu em út, xung phong đi bộ đội mặc cho người cha ngăn cản. Từ khi Nghĩa lên đường bà mẹ thường xuyên viết thư đến địa chị một hòm thư để gửi cho Nghĩa tuy nhiên thư viết đi bao nhiêu lại bị trả về nguyên vẹn bấy nhiêu. Mãi sau này khi người mẹ mất, Tân mang chiếc rương cũ về mở ra mới biết trong đó là những kỉ vật một thời, đặc biệt là những bức thư chưa bao giờ được mở mà người mẹ viết gửi cho Nghĩa – người con đi chiến đấu đã mãi mãi không trở về.)
Sang Tiệp tròn một năm, Tân được thư của mẹ báo tin Nghĩa vào bộ đội. Nhận giấy gọi vào Bách khoa trước giấy gọi nhập ngũ vậy mà Nghĩa nhất định không nghe theo lời bàn của cha mẹ. Cái thằng ấy tính nó như thế từ bé […]
Tân không hiểu gói quà ấy có đến tay Nghĩa không, bởi rõ ràng tất cả những phong thư anh đang thấy đây mẹ anh đều đã gửi lên Lương Sơn khi mà đơn vị của Nghĩa đã rời đi. Tất cả đều bị gửi ngược về hoàn trả, nhưng mẹ vẫn nhẫn nại viết và nhẫn nại gửi cầu may tới cái hòm thư đã hoang phế đó. Mấy bức đầu mẹ anh viết ngắn như là viết vội để gửi đi gấp. Không viết gì nhiều, những thư ấy chỉ hối Nghĩa mau biên thư về cho cha mẹ hay số hòm thư mới với lại hiện đang ở đâu, sức khoẻ thế nào. Nhưng theo dần năm tháng chiến tranh, thư của mẹ ngày một nhiều trang hơn và ngày một buồn bã hơn. Gửi đi bao nhiêu nhận lại bấy nhiêu, những lá thư của mẹ càng về sau càng như nhật ký, như là để gửi tới chính mình. Chữ mẹ nắn nót, dễ đọc dẫu mầu mực đã phai, dòng nối dòng đều đều, miên man che giấu niềm vô vọng. Mẹ kể rằng đêm qua mẹ nhìn thấy Nghĩa nhưng chưa kịp gọi thì đã tỉnh, tỉnh dậy thì đã chẳng còn lại gì, chẳng níu giữ được gì nữa cả, trong phòng tối đen, ngoài trời còi báo động hú vang. […]
Từ ngày Nghĩa lên đường đi Bê, cha mỗi năm mỗi yếu, sức lực lặng lẽ hao mòn. Rồi vốn chỉ là một cái u nhỏ mà phát thành ung độc sưng lớn sau lưng. Bệnh viện thiếu thuốc thiếu giường, mẹ đưa cha về chữa tại gia. Mà với cảnh ngộ đau ốm cơ cực thế thì chẳng cần sơ tán về vùng quê làm gì, đành liều, hai vợ chồng già bên nhau bất chấp máy bay Mỹ. Bom nổ, nhà cửa rung chuyển, vôi trần rụng lả tả. Đường điện thành phố bị phá hỏng liên miên nhiều ngày, ban đêm tối đen, nóng nực, ngột thở. Mẹ thức quạt cho cha. Bị sự đau đớn hành hạ, cha rộc rạc tiều tụy, thuốc uống vào nôn ra hết. Nhưng đến tuần cuối cùng thì chừng như đỡ đau, gượng lên ăn được chút cơm và có thể ngồi dậy. Song suốt mấy ngày liền ông không ngủ. Ông nói muốn được thức trắng cho tới giờ nhắm mắt. Đêm xuống, mẹ pha cho cha một ấm trà rồi đỡ ông ra ngồi ở bên bàn kề cửa sổ. .dự án tết hạnh phúc. Trong bóng đêm của thành phố chiến tranh, cha chờ đón cái chết theo cái cách như vậy. Cha mất lúc rạng mai. Ông ngả người vào lưng ghế, nhè nhẹ nắm lấy tay mẹ và thì thầm gọi con, Nghĩa.
Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. Vậy mà bây giờ nhận lấy chiếc rương này thì câu chuyện dài triền miên đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác mẹ đã kể với người con út, Tân lại phải đón lấy. “Khổ thân các con sinh ra gặp thời loạn lạc …”, lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít… Trước kia, đối với mẹ, sinh con trai con gái đều quý. Nhưng bây giờ nhìn cảnh bom đạn mù trời, mẹ nghĩ giá hồi đó con sinh ra được mang phận con gái thì hơn. Thời loạn thân gái cũng chẳng sướng gì, nhưng dù sao nếu phận gái thì chắc không đến nỗi bây giờ con biệt âm vô tín. Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? “.
Nghĩa ơi. Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về.
Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới. Nông nỗi thương tâm bất động của một người già có cái đáng quý là không làm ai phải để ý, bởi để ý tới thì không khỏi đau thắt trong lòng và không sao mà có thể bình tâm để yên ổn sống một cách dễ chịu cho nổi.
(Trích Gọi con, Bảo Ninh, nhandan.vn, ngày 19/8/2005)
Chú thích: Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh năm 1952, tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Quê ông ở Xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình. Bảo Ninh được biết tới với những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh và thời hậu chiến.
Gợi ý
– Người mẹ ấy là một phụ nữ tận tụy, cần mẫn, hết lòng yêu thương chồng con:
+ Vì lo cho Nghĩa nên bà viết thư hỏi thăm động viên, thư dù bị trả về nhưng người mẹ vẫn cứ viết với hi vọng những lá thư ấy sẽ đến tay con mình.
+ Sống trong hi vọng, khắc khoải chờ đợi ngày con trở về, thậm chí trong giấc mơ cũng thấy con.
+ Luôn nghĩ cho con, vì không muốn những đứa con khác lo lắng cho mình nên bà giữ kín những nỗi niềm trong lòng.
+ Khi người chồng ốm đau bệnh tật, bà ân cần chăm sóc bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm.
– Là người phụ nữ mạnh mẽ, kiên cường
+ Mặc cho chiến tranh khốc liệt người mẹ ấy vẫn không bao giờ từ bỏ hi vọng, bà luôn tin con mình còn sống và sẽ trở về.
+ Dù bom đạn tàn phá Hà Nội, tàn phá từng căn nhà nhưng người mẹ ấy vẫn quyết tâm bám trụ không rời Hà Nội.
– Là người phụ nữ nhẫn nhịn, chịu đựng và giàu đức hi sinh
+ Bà chấp nhận cho con lên đường nhập ngũ, đó là sự hi sinh vì đất nước
+ Suốt đời bà sống trong nỗi đau mất con, bà âm thầm chịu đựng một mình không than vãn với ai vì không muốn làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những đứa con khác.
– Ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề.
– Đánh giá về đặc sắc nghệ thuật: Tình huống truyện nhẹ nhàng nhưng thâm trầm và sâu sắc, khắc họa nhân vật chủ yếu qua hành động, tâm lí, ngôn ngữ gần gũi, giản dị nhưng gợi nhiều cảm xúc, suy ngẫm, giọng văn trầm buồn, ngậm ngùi.
Đoạn văn 200 chữ phân tích vẻ đẹp của nhân vật người mẹ trong đoạn trích “Gọi con” của nhà văn Bảo Ninh
Trước những mất mát khốc liệt của chiến tranh, văn học luôn dành những trang viết xúc động để khắc ghi vẻ đẹp của những con người bình dị mà phi thường. Bằng giọng văn trầm lắng, giàu chất suy tư, Bảo Ninh đã để lại nhiều dư âm sâu sắc qua đoạn trích Gọi con, đặc biệt là hình tượng người mẹ Việt Nam giàu yêu thương và đức hi sinh. Suốt những năm tháng con biệt vô âm tín, bà vẫn đều đặn viết thư, gửi đi rồi lặng lẽ nhận về, vẫn ôm ấp niềm tin con còn sống và sẽ một ngày trở lại. Nỗi nhớ thương day dứt khiến những lá thư dần hóa thành nhật kí của một trái tim mòn mỏi đợi chờ, đến cả trong giấc mơ bà cũng chỉ mong được gặp con. Giữa bom đạn, bà tận tụy chăm sóc người chồng bệnh nặng, âm thầm giấu kín mọi đau thương để các con nơi xa được yên lòng. Chấp nhận tiễn con ra chiến trường, lặng lẽ mang nỗi đau mất con đến cuối đời mà không một lời oán thán, người mẹ hiện lên với vẻ đẹp của lòng kiên cường, sự nhẫn nại và tình mẫu tử bao la. Qua tình huống những bức thư chưa bao giờ đến được người nhận cùng nghệ thuật khắc họa tâm lí tinh tế, Bảo Ninh đã làm sáng ngời hình ảnh người mẹ Việt Nam, để lại trong lòng người đọc niềm xúc động và biết ơn sâu sắc.
