
Phân tích chủ đề của truyện ngắn “Muộn” (Nguyễn Bích Lan) – Đề luyện thi vào lớp 10
PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
MUỘN
– Nguyễn Bích Lan –
Mẹ gọi điện cho dì, hắt vào máy điện thoại những tiếng gắt gỏng:
– Để bà ở bên ấy thêm một tuần nữa thì đã sao? Rồi thì tôi trông bà bù hai tuần. Liền hai tuần được chưa? Tôi có việc nếu không tôi chẳng phải tốn hơi nhờ dì.
Dì chắc chắn có gắt gỏng lại. Tính dì nóng nảy hơn mẹ nhiều. Từ trước đến nay dì chưa thua mẹ miếng nào.
Kể từ khi bà bước sang tuổi 90, không tự chăm sóc bản thân được nữa, dì và mẹ thỏa thuận với nhau mỗi người trông nom bà một tuần. Cũng kể từ đó bà như quả bóng bị đá từ đầu sân này sang đầu sân kia và ngược lại. […]
Một tuần trôi qua. Việc bận của mẹ là việc đi chùa theo kiểu đi “tua”. Đi mười bảy chùa trong một tuần. Ăn chay toàn diện. Thành tâm cúng lễ. Tối chủ nhật mẹ mới về nhà. Không ăn uống, chỉ tắm rửa qua quýt rồi mẹ lăn ra ngủ. […]
Ngày thứ hai của tuần tiếp theo bắt đầu. Ngày thứ hai bắt đầu phiên mẹ trông bà, và mẹ sẽ trông bà hai tuần liền để bù cho cả tuần trước mẹ đi chùa. Đến tận tối vẫn chưa thấy dì đưa bà sang nhà. Mẹ vẫn tức dì, không gọi điện sang nhà dì hỏi tại sao lại như vậy. Cũng có khi mẹ nghĩ cứ để dì trông bà được bao lâu thì trông, khi nào dì đưa bà sang thì khi ấy đến lượt mẹ.
Một tháng rưỡi trôi qua. Bà chưa được đưa sang nhà mẹ. Mẹ và dì vẫn giận nhau, không ai gọi điện cho ai. Thế rồi một hôm trước cổng nhà mẹ xuất hiện cậu con cả của dì. Cậu ta sinh sống ở nước ngoài, lần này đưa vợ chưa cưới về ra mắt gia đình.
– Chào bác, cháu đưa một nửa của cháu sang chào bà và hai bác đây ạ! Cậu ta vừa cười vừa nói với mẹ trong lúc mẹ mở cổng.
Mẹ gật đầu chào, hơi hé miệng cười lấy lệ. […]
– Bà ở trên gác ạ? Không phải gọi bà xuống đâu ạ. Chúng cháu lên chào bà. Cậu ta nói, cầm tay vợ chưa cưới kéo lên cầu thang.
Mẹ đứng khựng lại như người bị sét đánh:
– Bà vẫn ở bên ấy mà? Bên nhà cháu chứ đâu.
– Hì hì, bác cứ đùa!
Mẹ đứng ở chân cầu thang, nhìn quanh ngơ ngác như người mất trí. Thế rồi bốn cái máy di động cùng hoạt động một lúc. Tiếng bấm máy tít tít. Mẹ kêu trời bằng giọng thất thanh. Cậu con cả nhà dì dắt bạn gái lao ra cổng. Chuông điện thoại reo. Tiếng dì kêu khóc ở đầu dây bên kia nghe váng cả óc. Dì kêu:
– Ôi giời ơi là giời. Mẹ tôi đi đâu hả giời? Sáng thứ hai đó, mẹ xách túi quần áo đi ra ngõ, bảo “Mẹ về bên kia đây. Chị cả mày đón mẹ ở ngoài ngõ kia rồi.” Tôi đang bận trông chảo cá rán, chẳng ngó ra được. Cứ ngỡ mẹ được đón sang bên ấy rồi. Ai ngờ! Ối mẹ ơi, giờ này mẹ ở đâu, mẹ ơi!
Suốt nửa năm trời người của hai nhà chúng tôi đi tìm bà khắp nơi. Chúng tôi đăng tin tìm bà trên nhiều tờ báo giấy, báo điện tử, đăng tin cả trên truyền hình. Chẳng ai biết bà đang ở đâu…
Cách đây hai tuần, bỗng nhiên có một người đàn ông tìm đến nhà tôi gặp mẹ. Ông ấy đưa cho mẹ xem một tờ báo có đăng tin bà tôi mất tích. Rồi ông ấy lấy từ trong chiếc ba lô đã cũ ra một chiếc túi vải. Mẹ tôi trông thấy chiếc túi vải, bật khóc nức nở. Chiếc túi vải đó là túi đựng quần áo của bà.
Chính tay người đàn ông đó đã đặt bà vào chiếc quan tài mà ông tự bỏ tiền ra mua sau khi phát hiện bà tôi nằm còng queo trước cổng nhà ông, không động cựa và không còn thở.
Chiều muộn hôm đó, tại một nghĩa trang cách nhà chúng tôi gần 60km, mẹ tôi và dì, hai đứa con gái của bà tôi, khóc ngất trước nấm mộ phủ đầy cỏ xanh rì. Một người đi xe máy trên đường, dừng lại bên rìa nghĩa trang nhìn cảnh dì và mẹ tôi khóc vật vã, bùi ngùi nói: “Thương quá! Mồ mẹ cỏ đã xanh nhường kia mà các con vẫn khóc ngất. Thương quá!”
(In trong tập truyện Những ngọn lửa – Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2025, tr.27-32)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Nêu đề tài của truyện ngắn trên.
Câu 2 (1,0 điểm). Vì có “việc bận” nên mẹ phải nhờ dì trông bà thêm một tuần. Những “việc bận” của mẹ là gì? Qua đó, em có cảm nhận gì về nhân vật?
Câu 3 (1,0 điểm). Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp so sánh được sử dụng trong câu văn: “Cũng kể từ đó bà như quả bóng bị đá từ đầu sân này sang đầu sân kia và ngược lại.”
Câu 4 (1,0 điểm). Nêu ý nghĩa của chi tiết kết thúc câu chuyện:
Một người đi xe máy trên đường, dừng lại bên rìa nghĩa trang nhìn cảnh dì và mẹ tôi khóc vật vã, bùi ngùi nói: “Thương quá! Mồ mẹ cỏ đã xanh nhường kia mà các con vẫn khóc ngất. Thương quá!”
Câu 5 (0,5 điểm). Từ câu chuyện, em rút ra cho mình những bài học cuộc sống ý nghĩa nào?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích chủ đề của truyện ngắn “Muộn” được dẫn ở phần đọc – hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Từ xưa đến nay, trong đạo lí truyền thống của dân tộc ta, lòng hiếu thảo luôn được coi là nền tảng của mọi phẩm chất tốt đẹp. Đức Phật cũng từng dạy: “Lòng hiếu thảo là gốc của mọi điều thiện”. Tuy nhiên, trong thực tế xã hội hiện nay, vẫn còn không ít trường hợp con cái đối xử tệ bạc, thiếu quan tâm, thậm chí bất hiếu với cha mẹ, gây nên nhiều chuyện đáng buồn trong gia đình.
Trước thực trạng đó, hãy viết một bài văn nghị luận khoảng 400 chữ, để trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để trở thành một người con hiếu thảo với cha mẹ?
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
PHẦN I. ĐỌC – HIỂU
Câu 1: Đề tài: Gia đình/ Tình cảm gia đình (0,5 điểm)
Câu 2: (1,0 điểm)
– Những “việc bận” của mẹ: việc đi chùa theo kiểu đi “tua”, đi mười bảy chùa trong một tuần, ăn chay toàn diện, thành tâm cúng lễ.
– Cảm nhận về nhân vật: là người có lòng thành kính, thành tâm lễ bái, hướng thiện nhưng nặng về hình thức, bị cuốn theo một cách mê muội trong khi lại xao nhãng, thiếu quan tâm đến gia đình đặc biệt là người mẹ già 90 tuổi…
Câu 3:
– Hình ảnh so sánh: “bà” được ví với “quả bóng bị đá từ đầu sân này sang đầu sân kia” (0,25 điểm)
– Tác dụng:
+ Khắc họa nổi bật hình ảnh của người bà tuổi đã ngoài 90 trong tình cảnh đầy bất hạnh, cô đơn và tủi cực: các con đùn đẩy, thoái thác trách nhiệm coi bà như gánh nặng chuyền tay nhau. Bà không được con cái yêu thương, chăm sóc mà bị đối xử như một vật vô tri, bị “đá qua đá lại” (0,25 điểm)
+ Thể hiện thái độ xót xa, thương cảm của người viết đồng thời lên án, phê phán sự vô tâm, bất hiếu của con cái đối với cha mẹ. (0,5 điểm)
Câu 4:
Ý nghĩa của chi tiết kết thúc câu chuyện: Một người đi xe máy trên đường, dừng lại bên rìa nghĩa trang nhìn cảnh dì và mẹ tôi khóc vật vã, bùi ngùi nói: “Thương quá! Mồ mẹ cỏ đã xanh nhường kia mà các con vẫn khóc ngất. Thương quá!”
– Kết thúc truyện là lời nói của một người qua đường tạo tính khách quan, chân thực. (0,25 điểm)
– Nhận định đầy thương cảm của người qua đường khi thấy cảnh mẹ và dì khóc lóc vật vã trước nấm mồ của bà giờ cỏ đã xanh góp phần khắc sâu và làm nổi bật sự đối lập trong hành động: khi mẹ còn sống không ai muốn chăm sóc mẹ, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau đến khi mẹ không còn nữa đau đớn, tiếc nuối, khóc thương thì cũng đã muộn màng => Như một lời phán xét, để lại dư âm sâu sắc (0,25 điểm)
– Thể hiện thái độ mỉa mai, lên án, phê phán mà đầy chua xót của tác giả (0,25 điểm)
=>Góp phần thể hiện và làm nổi bật chủ đề tác phẩm: phê phán sự thờ ơ, vô tâm, vô trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ khi cha mẹ tuổi già sức yếu (0,25 điểm)
(HS có thể có các cách diễn đạt khác nhau, GV linh hoạt cho điểm)
Câu 5: HS nêu 2 bài học được 0,5đ. Không cho điểm với các nội dung tiêu cực, suy nghĩ lệch lạc.
Tham khảo:
– Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ
– Con cái cần phải quan tâm, chăm sóc cha mẹ nhất là khi cha mẹ tuổi già sức yếu.
– Không được coi việc chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ là gánh nặng để đùn đẩy từ người này sang người khác…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
– Hình thức: 0,5đ
+ Trình bày thành đoạn văn, khoảng 200 chữ, có câu mở, câu kết.
+ Trình bày sạch, rõ ràng. Diễn đạt câu đúng ngữ pháp, không mắc các lỗi diễn đạt, chính tả.
– Sáng tạo: 0,25đ
– Nội dung (1,25đ): Phân tích chủ đề của truyện ngắn “Muộn” (Nguyễn Bích Lan)
+ Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận (chủ đề của truyện) và nêu rõ ý kiến về vấn đề.
+ Thân đoạn: Phân tích cụ thể vấn đề (chủ đề truyện) và sự thể hiện cụ thể của vấn đề đó trong các mặt của tác phẩm.
+ Kết đoạn: Khẳng định lại ý kiến về vấn đề nghị luận
(Gợi ý: phần thân đoạn tham khảo – Phân tích chủ đề truyện:
1. Nêu chủ đề truyện: Lời cảnh tỉnh sâu sắc về sự vô tâm, bất hiếu của con cái đối với cha mẹ.
2. Phân tích các phương diện để làm nổi bật chủ đề
– Cốt truyện: Xoay quanh việc hai chị em thay phiên chăm sóc mẹ già nhưng thực chất là đùn đẩy trách nhiệm. Từ mâu thuẫn nhỏ (cãi vã, giận dỗi) → dẫn đến hậu quả lớn (bà bị bỏ quên, mất tích, qua đời) → Cốt truyện phát triển theo hướng tăng dần bi kịch, làm nổi bật hậu quả của sự vô tâm, với tình huống truyện đầy éo le: cả hai người con đều nghĩ bà đã được đón nhưng thực tình không ai đón bà.
– Nhân vật:
+ Người bà: già yếu, đáng thương, cần được chăm sóc nhưng bị đối xử như gánh nặng → chết cô độc → hiện thân cho số phận bi kịch.
+ Người mẹ và dì: vô tâm, thiếu trách nhiệm, hơn thua, khi hối hận cũng đã muộn màng.
– Đặc sắc nghệ thuật:
+ Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện: từ sự hiểu lầm đơn giản nhưng giàu kịch tính → đẩy câu chuyện đến cao trào, mang tính cảnh báo, có sức lay động mạnh.
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc họa qua hành động, lời nói, chi tiết đời thường → chân thực, gần gũi trong đó tập trung làm nổi bật tâm lí: từ vô tâm
→ đến đau đớn, hối hận.
+ Người kể chuyện: Ngôi kể thứ nhất (“tôi”) → tăng tính chân thực, tạo cảm giác gần gũi. Giọng kể xen lẫn xót xa, suy ngẫm → tăng chiều sâu cảm xúc.
+ Ý nghĩa nhan đề “Muộn”: Ngắn gọn, hàm súc, khái quát tư tưởng toàn truyện, gợi sự tiếc nuối, day dứt, khi nhận ra đạo hiếu thì đã quá muộn…
=> Bài học/ thông điệp phù hợp
(HS có thể phân tích theo các cách khác nhau nhưng cần có mạch ý rõ ràng, mạch lạc; thể hiện rõ tác phẩm mang chủ đề đó, chủ đề thể hiện qua nhiều yếu tố khác nhau trong văn bản. Lưu ý tính lập luận làm rõ chủ đề chứ không phải chỉ liệt kê các mặt).
Câu 2:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Trình bày theo cấu trúc 3 phần rõ ràng, hợp lí. (0.25 điểm)
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: những giải pháp để trở thành một người con hiếu thảo với cha mẹ (0.25 điểm)
c. Triển khai bài văn theo trình tự hợp lí, có tách đoạn rõ ràng, mạch lạc HS có thể triển khai lập luận theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các dẫn chứng, lí lẽ. Mạch lập luận gợi ý:
1. Mở bài (0,25 điểm): nêu vấn đề nghị luận – ý kiến về vấn đề (mỗi người đều có trách nhiệm/cần có những giải pháp tích cực,…)
2. Thân bài (2.5 điểm)
– Giải thích vấn đề nghị luận: (0.5 điểm)
+ Hiếu thảo: luôn được coi là nền tảng của mọi phẩm chất tốt đẹp, là trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ để làm tròn đạo làm con đền đáp đấng sinh thành
+ Một số ví dụ, biểu hiện về việc con cái hiếu thảo với cha mẹ
– Vì sao cần phải hiếu thảo với cha mẹ? (0.5 điểm)
+ Giá trị, ích lợi khi con cái hiếu thảo với cha mẹ?
+ Ngày nay, không ít trường hợp con cái đối xử tệ bạc, thiếu quan tâm, thậm chí bất hiếu với cha mẹ, gây nên nhiều chuyện đáng buồn trong gia đình -> nêu ngắn gọn tác hại, nguyên nhân
– Các giải pháp cụ thể để trở thành một người con hiếu thảo với cha mẹ 1.0đ
HS nêu và phân tích một số giải pháp cụ thể, hiệu quả, hợp lí (tối thiểu 2 giải pháp). Mỗi giải pháp viết thành một đoạn văn, trong đó nêu rõ:
+ Giải pháp gì?
+ Cần làm những việc gì cụ thể trong giải pháp này?
+ Tác dụng khi thực hiện được giải pháp ấy?
+ Bằng chứng cụ thể.
– Bàn luận, liên hệ: (0.5 điểm)
+ Đối thoại với ý kiến trái chiều để khẳng định cần có giải pháp
+ Liên hệ bản thân, bài học cho mọi người và bản thân
3. Kết bài (0.25 điểm): Khẳng định ý nghĩa của vấn đề nghị luận trong cuộc sống, chốt lại ý kiến người viết.
d. Chính tả, ngữ pháp, diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt, diễn đạt mạch lạc, trôi chảy, thuyết phục (0,25 điểm)
e. Sáng tạo: Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, thuyết phục (0,25 điểm)
