
Phân tích nghệ thuật miêu tả nhân vật qua đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du) – Đề luyện thi vào lớp 10
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
(1)Sự tự do trên mạng xã hội mở ra cơ hội để mọi người có thể kết giao bè bạn, học hỏi, phục vụ cho công việc của bản thân. Nhưng do hành vi sử dụng rất thiếu ý thức của một số người mà mạng xã hội lại tồn tại như “con dao hai lưỡi”, khiến người dùng mạng xã hội rất có thể sẽ trở thành nạn nhân của chính mình từ lúc nào mà không hề hay biết. Cùng với nhiều hiện tượng tiêu cực khác, hiện tượng “bán mình” để câu like trên mạng xã hội hiện nay đang chứng minh điều đó.
(2)Song like là gì khiến cho không ít người trở nên điên đảo? Đó chỉ là thể hiện thái độ của một nhóm người trước một nội dung được đăng tải trên mạng xã hội. Kể cả khi nhận về hàng chục nghìn like thì cũng không vì thế mà uy tín và trí tuệ của ai đó được nâng cao, hoặc tìm được việc làm tử tế, càng không khiến sự nghiệp của bản thân phát triển hơn. Đó là chưa kể việc đắm chìm với thế giới ảo trên mạng xã hội khiến cho cuộc sống của không ít người trở nên mất cân bằng, nảy sinh tâm lý chán ghét thực tại, khó hòa nhập cộng đồng. Vậy nhưng không ít người trẻ đã và đang dùng mọi chiêu trò để câu like, câu view như là cách thể hiện ảnh hưởng, tác động cũng như “đẳng cấp” của họ trên thế giới ảo.
(3)Tuy nhiên, từ sự trưởng thành lành mạnh, lương thiện của con người, chắc chắn không có “đẳng cấp” trong thế giới ảo nào được khẳng định, đánh giá cao trong cuộc sống thực qua những người mang cơ thể bản thân ra để hủy hoại, hoặc sẵn sàng đánh đổi nhân phẩm, danh dự của mình để lấy những lời tung hô phù phiếm, vô giá trị. Đúng như tên gọi “mạng ảo” – bởi hôm nay trên facebook ai đó có thể là “ngôi sao sáng” nhưng ngày mai liệu còn ai nhớ đến họ?
(4)Sự ham vui, ham lạ khiến cộng đồng ảo vừa tung hô người này sẽ lập tức quay lưng, kiếm những trò tiêu khiển mới từ người khác. Như một bạn trẻ đã thẳng thắn chia sẻ: “Khi thấy bạn này có nhiều like, những người khác sẽ nghĩ ngay đến việc mình cần làm những thứ ấn tượng để có nhiều like hơn và cho rằng đó là sự nổi tiếng. Thật ra, sau khi đóng cửa sổ màn hình lại, chẳng ai còn nhớ bạn là ai. Mọi người chỉ lưu hình ảnh bạn là người có những hành vi quá lố, thậm chí vô duyên”.
(5)“Thay đổi đi” – là điều mong mỏi của nhiều người trước một số biểu hiện lệch lạc trong một bộ phận giới trẻ, bởi căn bệnh “sống ảo” đang có nguy cơ ngày càng trầm trọng, gây ra hậu quả khôn lường cho nhiều cá nhân, cũng như xã hội. Cũng khẩu hiệu “nói là làm” nhưng sẽ thật đáng quý biết bao nếu thay vì phô diễn cái tôi kỳ dị với những hành vi quái lạ, quái đản, những người trẻ biết chung tay đóng góp công sức của mình giúp cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn bằng cách cố gắng học hành, tu dưỡng, tham gia công việc thiện nguyện, giúp người có hoàn cảnh khó khăn, dạy dỗ trẻ em nghèo không có điều kiện đến trường…
(6)Đã đến lúc cần nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia mạng xã hội, được thể hiện qua từng nút like, mỗi bình luận, và cả hành vi trong xã hội, từ đó góp phần làm trong sạch, lành mạnh hóa cộng đồng mạng. Và “thay đổi đi” phải trở thành thái độ sống tích cực, chứ không phải thay đổi để có hành động phản cảm, gây sốc, đánh bóng bản thân…
(Theo Thảo Anh, Hãy có một thái độ sống tích cực!, https://nhandan.vn/hay-co-mot-thai-do-song-tich-cuc…, ngày 20/3/2025)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề chính được bàn luận trong đoạn trích trên.
Câu 2. Chỉ ra một cách dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3. Bằng chứng “bán mình” để câu like trên mạng xã hội có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện luận điểm.
Câu 4. Hình ảnh so sánh mạng xã hội tồn tại như “con dao hai lưỡi” có tác dụng gì trong việc thể hiện luận đề của đoạn trích?
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị thấy mình cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội như thế nào?
II. VIẾT (5,0 điểm)
Trong “Truyện Kiều”, nhà thơ Nguyễn Du đã miêu tả chị em Thuý Kiều – Thuý Vân:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần.
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước, nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm.
(Nguyễn Du, “Truyện Kiều”, trong Đào Duy Anh, ‘Từ điển Truyện Kiều”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974).
* Chú thích: “Truyện Kiều” là một truyện thơ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du. Vị trí đoạn trích: nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều. Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung miêu tả tài sắc Thúy Vân và Thúy Kiều.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích nghệ thuật miêu tả nhân vật của tác giả Nguyễn Du qua đoạn trích trên.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Vấn đề chính được bàn luận trong đoạn trích: cần có thái độ ứng xử tích cực khi tham gia mạng xã hội.
Câu 2. Cách dẫn trực tiếp: một bạn trẻ đã thẳng thắn chia sẻ: “…”
Câu 3. Bằng chứng “bán mình” để câu like trên mạng xã hội có tác dụng làm rõ nội dung luận đề; làm rõ tác hại của những trò câu like trên mạng xã hội.
Câu 4. Hình ảnh so sánh mạng xã hội tồn tại như “con dao hai lưỡi” có tác dụng: làm cho lời văn trở nên ấn tượng, giàu hình ảnh; góp phần làm rõ nội dung của đoạn trích: từ những tác hại của mạng xã hội, nên mỗi người cần có thái độ ứng xử tích cực.
Câu 5. Nâng cao ý thức trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội: Kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ; Tôn trọng quyền riêng tư của người khác; Ứng xử văn minh, lịch sự; Không tiếp tay cho hành vi xấu trên mạng; Quản lý thời gian sử dụng mạng xã hội hợp lý; Hiểu và tuân thủ quy định của mạng xã hội; Lan tỏa nội dung tích cực; Sử dụng nút like có trách nhiệm…
II. VIẾT
a. Đảm bảo bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận
Đảm bảo yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn. Bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ). Bố cục ba phần: Mở bài giới thiệu được vấn đề nghị luận, thân bài làm rõ được vấn đề nghị luận qua hệ thống lí lẽ và bằng chứng, kết bài khẳng định được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích nghệ thuật miêu tả nhân vật của nhà thơ Nguyễn Du qua đoạn trích
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận – nghệ thuật miêu tả nhân vật của nhà thơ Nguyễn Du qua đoạn trích: nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp và phẩm chất của hai chị em Thuý Kiều
* Thân bài:
1. Khái quát về nghệ thuật miêu tả nhân vật trong đoạn trích
– Nguyễn Du sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng – đặc trưng của văn học trung đại.
– Miêu tả vẻ đẹp nhân vật bằng hình ảnh thiên nhiên cao quý, thanh tao.
– So sánh, ẩn dụ, nhân hóa tinh tế giúp khắc họa vẻ đẹp và số phận nhân vật.
2. Phân tích nghệ thuật miêu tả nhân vật qua hai chị em Thúy Kiều
a. Miêu tả chung về hai chị em
Nguyễn Du mở đầu bằng cách giới thiệu cả hai chị em với vẻ đẹp hoàn mỹ. Cách giới thiệu nhân vật bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, thể hiện tư duy thẩm mỹ của văn học trung đại.
b. Miêu tả Thúy Vân – vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang
Bút pháp gợi tả, dùng thiên nhiên để tôn vinh nét đẹp. Sử dụng nghệ thuật tương phản với Thúy Kiều. Vẻ đẹp của Thúy Vân hiền hòa, viên mãn, báo hiệu một cuộc đời ít sóng gió.
c. Miêu tả Thúy Kiều – vẻ đẹp sắc sảo, tài hoa nhưng vận mệnh bi kịch
Sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” nhưng đầy sóng gió
Thủ pháp đòn bẩy: Đặt sau Thúy Vân để nhấn mạnh sự hơn hẳn về sắc đẹp. Tài năng hiếm có nhưng cũng là nguồn cơn bi kịch. Nguyễn Du đã khắc họa đầy đủ vẻ đẹp của một tài nữ, nhưng cũng báo hiệu số phận truân chuyên theo quan niệm “tài mệnh tương đố”.
3. Đánh giá nghệ thuật miêu tả nhân vật: Vận dụng xuất sắc đặc trưng của truyện thơ:
– Bút pháp ước lệ tượng trưng: Dùng hình ảnh thiên nhiên để đặc tả vẻ đẹp nhân vật.
– Lối tả người qua tả cảnh: Thiên nhiên phản ứng với vẻ đẹp của Kiều (“hoa ghen, liễu hờn”), dự báo cuộc đời nàng sẽ đầy sóng gió.
– Ngôn ngữ trau chuốt, hàm súc: Chỉ với vài câu thơ nhưng khắc họa rõ nét chân dung nhân vật cả về ngoại hình, tài năng và số phận.
* Kết bài:
– Khẳng định tài năng của Nguyễn Du trong nghệ thuật miêu tả nhân vật.
– Nhấn mạnh vẻ đẹp và số phận của Thúy Kiều – trung tâm của tác phẩm.
Lưu ý: học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Chủ đề:Đề thi thử Văn vào 10 Hà Nội 2026, Đề thi thử vào 10 môn Văn Nghệ An, Đề thi Văn vào 10 chương trình mới, Đề thi văn vào 10 Hà Nội, Đề thi vào 10 môn Văn các tỉnh, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn, File đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn 2026, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn có đáp an, Miêu tả các nhân vật trong truyện kiều, Nghệ thuật miêu tả là gì, Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du, Nghệ thuật miêu tả nhân vật là gì, Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong truyện kiều, Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyện Kiều, Nhận xét về nghệ thuật miêu tả nhân vật, Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du
