
Phân tích bài thơ “Cảm Tết” của Trần Tế Xương
Cảm Tết
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo,
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu.
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy,
Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu.
Bánh chưng sắp gói, e nồm chảy,
Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu.
Thôi thế thì thôi, đành tết khác,
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo!
– Tú Xương
I. Mở bài:
Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Phân tích bài thơ “Cảm Tết” của Tú Xương
II. Thân bài:
a. Khái quát về hoàn cảnh ra đời/cảm hứng/ đề tài hoặc nhan đề:
– Bài thơ được sáng tác vào khoảng những năm đầu tiên khi mà thực dân bắt đầu đặt chân lên đất nước ta. Lúc này xã hội rơi vào tình cảnh hỗn loạn, nhân dân lầm than, đói khổ. Gia đình Tú Xương cũng không phải ngoại lệ. Vì vậy mỗi dịp Tết đến xuân về, ông đều rất buồn rầu vì chẳng có điều kiện ăn Tết cho tươm tất.
– Qua bài thơ, Tú Xương vừa nói về hoàn cảnh túng quẫn của mình, vừa phê phán lối sống hình thức, trọng vật chất trong xã hội.
b. Phân tích nội dung chủ để của bài thơ “Cảm Tết ”- tiếng cười hài hước, một cách đùa cợt nhẹ nhàng về chính cảnh ngộ bản thân của nhà nho bất đắc chí Tú Xương.
– Câu thơ mở đầu là lời thanh minh của thi nhân về gia cảnh bản thân: “ Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo”.
– Năm dòng thơ tiếp theo làm rõ cái “không nghèo” của gia chủ:
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu.
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy,
Trà sen mượn hỏi, giả còn kiêu.
Bánh chưng sắp gói, e nằm chảy,
Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu.
+ Tiếng cười hài hước, nhẹ nhàng như đùa cợt được bật lên từ thủ pháp đối lập, cách sử dụng liệt kê trong đoạn thơ. Hàng loạt những vật chất cần có cho ngày Tết đều được gọi ra: tiền bạc, rượu cúc, trà sen, bánh chưng, giò lụa …. Đây đều là những thứ thiết yếu con người nên có trong ngày Tết, chứ không có gì là xa hoa. Cách nói đối lập làm rõ sự tương phản giữa mong muốn của con người và thực tế chẳng có gì. Nhưng cái hài hước, dí dỏm là ở chỗ thi nhân biện minh cho những điều ấy một cách rất khéo léo. Tiền bạc không có bởi “trong kho chửa lĩnh tiêu, rượu cúc” không có là do người bán rượu “hàng biếng quẩy”; trà sen không có vì “ giá còn kiêu”; đến bánh chưng, giò lụa- những món ăn đặc trưng, dân dã nhất của ngày Tết cổ truyền cũng không có nốt, nhưng cũng không do lỗi của gia chủ mà vì thời tiết “ e nồm chảy, sợ nắng thiu”.
+ Sau tiếng cười hài hước ấy rõ ràng là một thực tế đáng buồn của thi nhân. Ở đây, thi nhân không thể có được bất cứ một thứ gì dù nhỏ và cần thiết nhất trong ngày Tết. Phải khó tới mức nào thì con người mới phải “phô phang” không giấu nổi cái nghèo như thế. Thì ra hài hước chính là cách gượng cười của con người trước sự túng thiếu, trước cái nghèo của gia đình mình.
– Hai câu kết lại như một lời khẳng định để giãi bày:
Thôi thế thì thôi, đành Tết khác,
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo!
Bởi những nguyên do bất đắc dĩ thi nhân đành hẹn tết khác sẽ sung túc, đủ đầy “Thôi thế thì thôi, đành tết khác”. Câu thơ cuối bài có sự lặp lại nguyên vẹn câu thơ mở đầu rõ ràng là một lời phân trần sau khi đã giãi bày về cái nghèo không giấu nổi của mình: “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo!”. Rõ ràng là cười ra nước mắt của kẻ sĩ bất đắc chí.
c. Phân tích một số đặc sắc nghệ thuật của bài thơ – tiếng cười hài hước trong bài thơ “Cảm Tết” được thể hiện qua những hình thức nghệ thuật độc đáo.
– “Cảm Tết ” là áng thơ thất ngôn bát cú với những quy định chặt chẽ về niêm, luật: bài thơ được làm theo luật bằng bởi tiếng thứ hai của dòng thơ đầu là thanh bằng “em”.
– Về vần, bài thơ gieo vần chân ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 là nghèo tiêu – kiêu – thiu – nghèo. Trong đó, đặc biệt là hai tiếng mở đầu và khép lại chuỗi vần đều là chữ “nghèo” gợi liên tưởng tới cảnh ngộ nghèo khó như một vòng luẩn quẩn chẳng thể thoát ra. Nội dung chủ đề của bài thơ, tiếng cười hài hước nhẹ nhàng mà chua chát của bài thơ cũng bật lên từ đó.
– Thủ pháp tương phản được sử dụng thành công: Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu; Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
– Cách nói tương phản vừa tạo ra cách diễn đạt hài hước, dí dỏm, gây cười cho bài thơ, vừa nhấn mạnh làm nổi bật sự tương phản giữa những điều mong muốn và thực tiễn.
– Ngôn ngữ, hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi, chân thực, tiêu biểu,…
III. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề nghị luận và liên hệ bản thân.
Bài văn 600 chữ
Trong thơ ca trung đại Việt Nam, Trần Tế Xương (Tú Xương) hiện lên như một tiếng cười khác lạ: cười mà buồn, cười để che giấu nước mắt, cười để tự giễu chính mình giữa cuộc đời đầy ngang trái. Bài thơ “Cảm Tết” là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua tám câu thơ ngắn gọn, Tú Xương đã khắc họa sinh động cảnh Tết nghèo của bản thân, đồng thời gửi gắm nỗi cay đắng của một nhà nho bất đắc chí trước thời cuộc đảo điên.
“Cảm Tết” ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp từng bước đặt ách thống trị lên đất nước. Nền Nho học suy tàn, khoa cử mục ruỗng, những kẻ có tài và nhân cách như Tú Xương lại rơi vào cảnh lỡ vận, sống nghèo khổ, bấp bênh. Tết vốn là biểu tượng của sum vầy, đủ đầy, với ông lại trở thành dịp để cảm nhận sâu sắc hơn nỗi thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Chính từ hoàn cảnh ấy, bài thơ cất lên tiếng cười hài hước mà thấm thía.
Câu thơ mở đầu vang lên như một lời phân trần đầy duyên dáng:
“Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo,”
Nhà thơ vội vàng thanh minh, nhưng càng thanh minh lại càng khiến cái nghèo hiện rõ hơn. Đó là cách nói “đòn gió” rất Tú Xương: tưởng như phủ nhận, mà thực chất là khẳng định. Ngay từ câu mở đầu, giọng điệu tự trào đã bao trùm toàn bộ bài thơ.
Năm câu thơ tiếp theo là một chuỗi liệt kê những thứ đáng lẽ phải có trong ngày Tết: tiền bạc, rượu cúc, trà sen, bánh chưng, giò lụa. Những hình ảnh ấy gợi lên không khí Tết cổ truyền quen thuộc, ấm áp. Thế nhưng, trớ trêu thay, tất cả chỉ dừng lại ở dự định. Cái tài của Tú Xương nằm ở chỗ ông luôn tìm được những lí do “rất phải”: tiền thì “chửa lĩnh tiêu”, rượu vì “hàng biếng quẩy”, trà sen bởi “giá còn kiêu”, còn bánh chưng, giò lụa lại do thời tiết “e nồm chảy”, “sợ nắng thiu”. Những lí do ấy vừa hợp lí lại vừa vô lí, khiến người đọc bật cười. Nhưng sau tiếng cười ấy là cả một nỗi xót xa: đến những món ăn giản dị nhất của ngày Tết cũng không thể có.
Cái nghèo trong thơ Tú Xương không được than thở bi lụy, mà hiện lên qua giọng điệu hài hước, đùa cợt. Song càng cười, ta càng cảm nhận rõ nỗi cay đắng của một con người phải “phô bày” cái nghèo của mình một cách bất đắc dĩ. Hài hước ở đây chính là cách nhà thơ tự an ủi, tự chống đỡ trước hiện thực khắc nghiệt của đời sống.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một nỗi ngậm ngùi sâu lắng:
“Thôi thế thì thôi, đành tết khác,
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo!”
Lời thơ như một sự buông xuôi, cam chịu. Việc lặp lại nguyên vẹn câu thơ mở đầu tạo nên một vòng tròn khép kín, gợi cảm giác bế tắc, quẩn quanh. Càng khẳng định “không nghèo”, cái nghèo lại càng hiện lên rõ ràng, day dứt. Đó là tiếng cười ra nước mắt của một kẻ sĩ có tài, có tâm mà không gặp thời.
Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, vần “nghèo” mở đầu và kết thúc như ám ảnh không lối thoát. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, gần gũi với đời sống, thủ pháp tương phản và liệt kê được vận dụng linh hoạt, tạo nên giọng điệu trào phúng đặc sắc.
Có thể nói, “Cảm Tết” không chỉ là câu chuyện riêng của Tú Xương, mà còn là nỗi niềm chung của biết bao nhà nho trong buổi giao thời. Đọc bài thơ, ta vừa bật cười trước sự dí dỏm của thi nhân, vừa lặng lòng trước một thân phận tài hoa mà lận đận. Và chính từ đó, giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm vẫn còn nguyên vẹn cho đến hôm nay.
Bài văn 400 chữ
Mỗi độ Tết đến, xuân về, người ta thường mong chờ những bữa cơm sum họp, những ngày no đủ và ấm áp yêu thương. Nhưng không phải ai cũng có một cái Tết trọn vẹn. Với Trần Tế Xương – nhà thơ trào phúng nổi tiếng cuối thế kỉ XIX, Tết lại gợi lên nhiều nỗi chua xót hơn là niềm vui. Bài thơ “Cảm Tết” đã ra đời trong tâm thế ấy, như một tiếng cười tự giễu vừa hóm hỉnh vừa đắng cay, phản ánh sâu sắc cảnh nghèo và tâm trạng của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc rối ren.
“Cảm Tết” được sáng tác khi xã hội Việt Nam chìm trong khủng hoảng, Nho học suy tàn, con đường công danh của Tú Xương trở nên bế tắc. Tết là biểu tượng của đủ đầy lại càng làm cái nghèo hiện lên rõ nét. Mở đầu bài thơ, nhà thơ vội vàng phân trần: “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo,” như muốn xua đi một sự thật khó giấu. Nhưng chính cách phủ nhận ấy lại khiến cái nghèo hiện ra ngay từ câu chữ đầu tiên, tạo nên giọng điệu tự trào rất đặc trưng.
Năm câu thơ tiếp theo là bức tranh Tết với hàng loạt vật dụng quen thuộc: tiền bạc, rượu cúc, trà sen, bánh chưng, giò lụa. Đó đều là những thứ bình dị, thiết yếu trong ngày Tết cổ truyền. Thế nhưng, tất cả chỉ tồn tại trên lời nói. Tú Xương đã khéo léo dùng hàng loạt lí do “nghe rất xuôi tai” để biện minh cho sự thiếu thốn: tiền thì “chửa lĩnh tiêu”, rượu vì “hàng biếng quẩy”, trà sen bởi “giá còn kiêu”, còn bánh chưng, giò lụa lại do thời tiết “e nồm chảy”, “sợ nắng thiu”. Tiếng cười bật lên nhẹ nhàng, hóm hỉnh, song ẩn sau đó là nỗi xót xa: đến những món ăn giản dị nhất của ngày Tết cũng không thể có.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng sự cam chịu đầy cay đắng: “Thôi thế thì thôi, đành tết khác”. Việc lặp lại câu thơ mở đầu ở cuối bài không chỉ tạo kết cấu vòng tròn mà còn khắc sâu ám ảnh về cái nghèo không lối thoát. Càng cố trấn an, nhà thơ càng bộc lộ nỗi bất lực của mình trước hiện thực.
Bằng giọng điệu trào phúng độc đáo, ngôn ngữ mộc mạc và hình ảnh gần gũi, “Cảm Tết” đã để lại trong lòng người đọc một tiếng cười vừa vui vừa buồn. Đó không chỉ là tiếng lòng của riêng Tú Xương, mà còn là nỗi niềm chung của những con người tài hoa nhưng lỡ vận trong xã hội cũ.
Đoạn văn 200 chữ
Bài thơ “Cảm Tết” của Trần Tế Xương là một tiếng cười tự trào đầy duyên dáng nhưng ẩn chứa nhiều cay đắng của một nhà nho bất đắc chí trước cảnh đời nghèo khó. Ra đời trong bối cảnh xã hội cuối thế kỉ XIX đầy biến động, khi con đường khoa cử đã trở nên bế tắc, bài thơ phản ánh rõ tâm trạng của Tú Xương mỗi dịp Tết đến xuân về. Mở đầu bằng lời thanh minh “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo”, nhà thơ tưởng như phủ nhận cái nghèo, nhưng chính cách nói ấy lại khiến sự thiếu thốn hiện ra ngay từ đầu. Năm câu thơ tiếp theo là chuỗi liệt kê những vật dụng quen thuộc của ngày Tết như tiền bạc, rượu cúc, trà sen, bánh chưng, giò lụa, song tất cả đều chỉ tồn tại trên lời nói. Tú Xương khéo léo đưa ra những lí do tưởng chừng rất hợp lí để biện minh cho sự không có ấy, tạo nên tiếng cười hóm hỉnh mà chua xót. Hai câu kết lặp lại ý mở đầu, khép lại bài thơ trong cảm giác cam chịu, bất lực. Qua giọng điệu trào phúng và ngôn ngữ mộc mạc, “Cảm Tết” vừa khiến người đọc bật cười, vừa gợi lên nỗi thương cảm sâu sắc trước một thân phận tài hoa nhưng lỡ vận.
