
Phân tích tình cảm của nhân vật tôi trong đoạn trích “Ngải đắng ở trên núi” của Đỗ Bích Thúy
NGẢI ĐẮNG Ở TRÊN NÚI
(Đỗ Bích Thúy)
Tóm lược bối cảnh: Mẹ và thằng Sinh đón tôi trở về. Cha tôi hy sinh khi tôi mới mười tuổi. May mà em Dân lấy vợ quê, từ ngày vợ chồng em đẻ thằng Sinh mẹ tôi cũng khuây khoả. Thằng Câm trong làng chạy tới mang cho tôi bó rau ngải đắng. Chính cái thứ hương cay cay ngòn ngọt nhằng nhặng đắng đã theo riết tôi, đã níu tôi với cả quãng đời thơ ấu bình yên. Mẹ trách tôi bỏ quê mà đi, rồi lấy chồng mãi mới về. Tôi khóc nức lên. Tôi biết nói gì với mẹ, khi tôi đã ra đi vì khát vọng của mình, đã giãy giụa ra khỏi những mịt mùng, heo hút, đã sợ bị “định giá” như mẹ, như em dâu…
Trở về, mẹ không đi nằm mà ra bếp ngồi, cời lò cho cháy lên, lại mang lưới ra. Ánh lửa chập chờn hắt lên mẹ, lên mái tóc bạc, lên gương mặt đã kín vết nhăn, như thực, như hư. Một nỗi sợ từ đâu ùa vào tôi. Hình ảnh chiếc áo quan mở nắp mà thằng Sinh với lũ bạn nhảy ra nhảy vào đùa nghịch hiện lên mồn một. Mẹ tôi đã chuẩn bị cho sự ra đi lâu nhất mãi mãi như thế từ cách đây năm, sáu năm. Ba con dê đổi lấy một khúc gỗ dẻ lớn mà em Dân dùng trâu kéo về…
Tôi ra ngồi với mẹ. Lát sau gà gáy eo óc thì em dâu cũng dậy kiễng chân với mẹt chuối sấy trên gác bếp xuống lật trở cho đều. Sắp tới rằm tháng bảy ăn to lắm. Nhà nào nghèo mấy thì trẻ con cũng phải có bộ quần áo mới, trong nhà có ít nhất hai thứ bánh gù, bánh chuối và chõ xôi đỏ hoặc tím. Ngày nhỏ tôi đã từng bắt em Dân theo chúng bạn sang tận Khuổi Nậm tụ tập đánh khăng đánh cù, lúc đói bụng thì chạy vào bất cứ nhà nào cũng được ăn bánh đầy bụng. Tháng bảy hay mưa nhưng cứ mười bốn, mười rằm là tạnh ráo. Đàn ông đi uống rượu nhà bạn bè có khi say mấy ngày liền không về.
Em dâu nhắc: “Rằm tháng bảy năm nay thế nào chị Din cũng phải về đấy nhé. Hai cái rằm rồi, làm bao nhiêu bánh ăn mãi không hết. Làm ít bà bảo sợ chị Din về, nhỡ có bạn đi cùng thì không đủ, thế là cứ cố nhiều bột nhiều chuối… Ấy da…”. Tôi nhìn mẹ. Muốn hỏi có phải Ềm chỉ làm mặt giận vậy thôi chứ lúc nào cũng thương con gái nhất, nhưng mẹ dường như chẳng để ý gì.
Chưa tỏ mặt người, em Dân đã đi, bảo phải lên họp ở trên huyện. Dân nhìn tôi, hình như muốn nói gì, nhưng ngần ngừ rồi thôi, xách cặp đi, tiếng xe Min nổ phành phạch xa dần. Gương mặt buồn buồn của đứa em trai mới lớn ngày nào còn tranh với chị từng củ sắn nướng cứ dằn vặt tôi. Nghe đâu người ta còn muốn cất nhắc Dân lên huyện nhưng em không muốn đi. Dân khác tôi, gắn chặt với nơi mình sinh ra, không sao rời đi được dù có nhiều cơ hội cho bản thân vươn lên. Tôi vừa thương vừa biết ơn Dân, em gánh cả phần trách nhiệm của tôi đối với mẹ, hẳn cha tôi dưới kia cũng mừng.
Lược một đoạn: Tôi và thằng Sinh dậy sớm đi tìm những con ngỗng ngoài bờ suối. Thằng bé giống hệt Dân hai mươi năm về trước. Về đến nhà, mẹ tôi đang đứng chờ ở cầu thang…
Dưới chân cầu thang, nơi mẹ tôi và thằng Sinh đang đứng. Có một phiến đá rất lớn. Phiến đá màu xanh, bốn năm người đứng lên vẫn đủ chỗ. Cha tôi đã kéo nó từ dưới chân suối lên sau một cơn lũ lớn. Chính trên phiến đá này tôi đã gặp cha lần cuối cùng, nghe ông dặn dò rồi tôi khóc ròng ròng mãi mới buông vạt áo ông ra. Sau này không biết đã bao nhiêu lần tôi đứng vào chỗ của cha hồi đó, mặt hướng lên phía Tây Côn Lĩnh cao vời vợi, sương mù phủ trắng, mà cảm thấy như một sự ấm áp, một nguồn sinh lực nào đó, để có thể đi những bước vững vàng ngoài kia.
Mặt trời lên. Đỏ như một quầng lửa. Báo hiệu một ngày rất nắng. Cứ nắng như thế thì chỉ ba ngày là thóc nếp khô, yên tâm xếp lên gác bếp. Năm nào cũng vậy, sau mùa thu hoạch bao giờ trên cái gác chạy dài từ đầu nhà đến cuối nhà cũng đầy chật lúa ngô. Ngô túm thành từng túm treo lủng lẳng, lúa xếp bên trên. Được mùa, có khi lúa năm ngoái chưa ăn hết thì lúa năm nay đã về, cứ thế xếp lên. Mẹ tôi kể ngày xưa, nhà ông bà nội còn có những cum thóc tuổi nhiều hơn chú út.
Có tiếng leng keng, lịch kịch, thì ra thằng Câm đang lùa dê lên núi. Nó dừng ở ngõ nhà tôi, chờ em dâu tôi lùa dê ra. Tôi bảo: “Để chị đi cùng nó”. “Làm gì cơ chứ. Mình nó vẫn chăn mà. Với lại, xa lắm cơ chị Din ạ”. “Xa mấy chị cũng tới được. Chị muốn tìm ngải đắng…”. “Thì bảo nó lấy cho. Việc gì phải đi cho mệt ra”. “Không. Chị muốn tự hái về”. Mẹ lẩm bẩm: “Ngày xưa… ngải bò vào đến gầm sàn, dỗ mãi không ăn. Làm sao giờ lại thèm khát đến thế hở!”.
Câm hớn hở ra mặt. Cặp mắt anh ánh đàn ông lấp lánh trên gương mặt thoắt buồn, thoắt vui. Chắc đi mãi một mình nó cũng buồn. Chúng tôi đi ngược về phía mặt trời. Mặt trời đang ở phía sau dãy núi kia, mới chỉ thấy những tia nắng hình quạt nan hắt lên. Con đường đầy những vết chân dê càng lúc càng dốc, những con bọ gậy bò lổm ngổm trên đám lá vàng ướt sũng sương đêm. Càng lên cao rừng càng âm u. Ở những cánh rừng như thế này trời tối khi nào đám trẻ mải chơi không kịp biết. Trên đầu tán cây ken dày khít, ong bay vù vù. Vất vả lắm tôi mới theo kịp Câm. Đàn dê không cần đuổi cũng đã chạy trước, sục vào những bụi cây gai mịt mùng.
Và đây, tôi đang đứng trên đỉnh của một trong những ngọn núi hùng vĩ nhất Tây Côn Lĩnh. Gió lồng lộng thổi như muốn cuốn tôi bay lên cao… và kia, oà ra trước tôi, xanh rợp, tím ngắt, bàng bạc trắng, dập dềnh như những con sóng là cả triền núi mơn mởn ngải đắng vừa thức dậy từ sương mù. Tôi lao vô tri vào đấy, úp mặt lên nó, một trạng thái nửa mê nửa tỉnh, tựa hồ quay về những năm tháng rất xa. Những năm tháng mà có lúc tưởng như nó chỉ còn phảng phất trong cuộc sống cuồn cuộn chảy, dữ dội vật lộn hôm nay. Tôi gặp cha tôi ở đây. Ông vẫn cường tráng vâm váp, tôi rúc vào ông như một con gấu con…
Tôi đã trở về nơi tôi sinh ra. Nơi mặt trời lên muộn nhất và đi ngủ sớm nhất.
Tôi đã trở về trên núi cao.
(Đỗ Bích Thúy, tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, NXB Văn học, 2021, tr.161-174)
* CHÚ THÍCH: Nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh năm 1975 ở Hà Giang, hiện đang làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội. Chị đã giành nhiều giải thưởng văn học như: Giải Nhất Cuộc thi sáng tác truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1999; giải Nhất tiểu thuyết Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2013; giải Nhất Văn học nghệ thuật thủ đô năm 2014; Giải Nhì Cuộc thi viết “Quân đội anh hùng, quốc phòng vững mạnh” năm 2019. Qua những trang văn nhẹ nhàng mà sâu lắng, nhà văn Đỗ Bích Thúy đã gieo vào lòng người đọc thật nhiều xúc cảm và cả những ý niệm về cái đẹp trong hồn người, tình người, tình quê hương sâu nặng.
Gợi ý
a. Phân tích được những sắc thái tình cảm của nhân vật tôi:
– Nội tâm sâu sắc: giằng xé giữa khát vọng cá nhân được thoát ra khỏi những mịt mùng heo hút và những định giả với trách nhiệm gắn chặt với nơi mình sinh ra với gia đình, quê hương.
– Hiếu thảo, trọng tình thân: thương và lo cho mẹ già một nỗi sợ từ đâu ùa vào tôi, nhớ người cha đã khuất, biết ơn em trai đã gánh vác trách nhiệm thay chị.
– Gắn bó với quê hương, hướng về nguồn cội: hành trình đi tìm ngải đẳng đi ngược về phía mặt trời, lên đỉnh của một trong những ngọn núi hùng vĩ nhất Tây Côn Lĩnh là hành trình trở về nguồn cội, về với tuổi thơ trở về nơi tôi sinh ra, trở về trên núi cao. Ngải đắng như biểu tượng của kí ức, là mối dây gắn bó tôi với gia đình, quê hương.
b. Đánh giá được tình cảm của nhân vật tôi:
Tình thần, tình yêu quê hương và sự cần thiết trở về nguồn cội trong tâm hồn mỗi con người được diễn tả chân thực sâu sắc. Nhân vật được khắc hoạ chủ yếu qua hành động và những giằng xé nội tâm tinh tế, tình huống truyện nhẹ nhàng, ngôn ngữ giàu hình ảnh, truyền cảm và đậm màu sắc văn hoá gắn không gian núi rừng Tây Côn Lĩnh…
Đoạn văn 200 chữ phân tích tình cảm của nhân vật tôi trong đoạn trích “Ngải đắng ở trên núi” của Đỗ Bích Thúy
Trong truyện ngắn “Ngải đắng ở trên núi” của Đỗ Bích Thúy, nhân vật “tôi” hiện lên với những cung bậc tình cảm sâu sắc và đầy giằng xé. Đó là nỗi day dứt của một người con từng rời quê vì khát vọng thoát khỏi “mịt mùng, heo hút”, sợ bị “định giá” như mẹ, như em dâu, nhưng khi trở về lại không nguôi ám ảnh về trách nhiệm và tình thân. Trước mái tóc bạc và chiếc áo quan mẹ đã chuẩn bị, “một nỗi sợ từ đâu ùa vào”, cho thấy tình yêu thương và nỗi lo hiếu thảo dành cho mẹ già. Kí ức về người cha đã khuất trên phiến đá dưới chân cầu thang cùng niềm biết ơn em Dân âm thầm gánh vác gia đình càng làm nổi bật tấm lòng trọng nghĩa tình. Đặc biệt, hành trình đi tìm ngải đắng trên đỉnh Tây Côn Lĩnh là hành trình trở về nguồn cội. Ngải đắng – vị cay ngòn ngọt nhằng nhặng trở thành biểu tượng của kí ức, của quê hương, níu giữ nhân vật với tuổi thơ bình yên. Qua dòng tâm trạng tinh tế và giàu chất núi rừng, tác giả khẳng định: dẫu đi xa đến đâu, con người vẫn cần một nơi để trở về.
