
Phân tích hình ảnh những đứa trẻ trong đoạn trích “Trăng trong rừng và những đứa trẻ” (Thanh Thảo) – Đề thi vào lớp 10 Hà Nội năm 2026
I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Đọc văn bản sau:
Trăng trong rừng và những đứa trẻ
Những đứa trẻ chưa từng ra biển
Nào thấy trăng trên sóng biếc mênh mang
Chưa được lớn lên ở đồng bằng
Để ca múa dưới vầng trăng nguyên vẹn
Cũng chưa sống giữa phố phường bừng ánh điện
Nơi mùa trăng dễ bị lãng quên…
Những đứa trẻ ở rừng
Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá
Những vệt ngời nho nhỏ
Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ
Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ
Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Những vệt ngời nho nhỏ
Những vệt ngời nho nhỏ
Giữa rừng già
Trăng bé thế thôi…
– Thanh Thảo
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của bài thơ trên và nêu một dấu hiệu nhận biết thể thơ đó.
Câu 2 (0,5 điểm). Ghi lại hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong hai dòng thơ:
“Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ
Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao”.
Câu 4 (1,0 điểm). Lời gọi trăng của những đứa trẻ trong khổ thơ cuối có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1,0 điểm). “Những đứa trẻ ở rừng” đón “trăng rằm qua kẽ lá” “long lanh”, chúng chưa từng được ra biển để thấy “trăng trên sóng biếc mênh mang”. Theo em, bằng lòng với cuộc sống hiện tại hay dấn thân khám phá những chân trời mới, trải nghiệm nào đáng giá hơn? Hãy nêu lựa chọn của em và lí giải vì sao (trình bày trong khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh những đứa trẻ trong các dòng thơ sau:
“Những đứa trẻ ở rừng
Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá
Những vệt ngời nho nhỏ
Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ
Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?”
Câu 2 (4,0 điểm)
Xã hội hiện đại cần nhiều hơn sự gắn kết nhưng một số bạn trẻ lại đang dần mất đi sự kết nối với cuộc sống xung quanh mình.
Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) đề xuất giải pháp để tạo nên những kết nối có ý nghĩa tích cực nhằm khắc phục thực trạng trên.
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
I. Phần đọc hiểu
Câu 1.
– Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
– Dấu hiệu nhận biết: số lượng các chữ trong một dòng không đều nhau.
+ Dòng 5 tiếng : Những đứa trẻ ở rừng.
+ Dòng 7 tiếng : Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá.
+ Dòng 9 tiếng : Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ
Câu 2.
Ghi lại hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu: biển, trăng.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ nhân hoá : trăng – dễ thương, gương mặt dịu lành.
– Tác dụng:
+ Giúp hình ảnh vầng trăng trở nên gần gũi, sinh động, có hồn và mang vẻ đẹp ấm áp, thân thuộc như một người bạn nhỏ của trẻ em miền núi.
+ Thể hiện sự đồng điệu, hòa quyện tuyệt đối giữa thiên nhiên và con người. Vầng trăng dịu hiền ấy như đang sẻ chia, xoa dịu đi những thiếu thốn, nhọc nhằn trong cuộc sống đầy “gian lao” của các em. Qua đó, bộc lộ tình cảm yêu thương, trân trọng và cái nhìn đầy nhân văn của tác giả dành cho trẻ em vùng cao.
Câu 4.
Lời gọi trăng của những đứa trẻ trong khổ thơ cuối có ý nghĩa:
– Phản ánh chân thực sự ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng và khát vọng kết bạn, vui chơi hết sức tự nhiên của những đứa trẻ nơi rừng già.
– Thể hiện niềm khao khát cháy bỏng về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc trọn vẹn (được đại diện bởi hình ảnh “trăng tròn”) , điều mà thực tế cuộc sống nghèo khó, che khuất nơi núi rừng các em không có được.
– Thể hiện niềm cảm thương sâu sắc của tác giả dành cho những ước mơ nhỏ bé của các em nhỏ vùng cao.
Câu 5.
– Các em đưa ra lựa chọn của bản thân và lí giải phù hợp.
– Tham khảo các câu trả lời dưới đây:
Phương án 1: Lựa chọn “Dấn thân khám phá những chân trời mới”
Theo em, việc dấn thân khám phá những chân trời mới là trải nghiệm đáng giá hơn cả. Bởi lẽ, cuộc sống chỉ thực sự ý nghĩa khi con người không ngừng mở rộng giới hạn của bản thân, bước ra khỏi vùng an toàn để học hỏi và tích lũy vốn sống. Giống như những đứa trẻ ở rừng, nếu không một lần ra biển, chúng sẽ mãi mãi không biết thế nào là “sóng biếc mênh mang”. Sự dấn thân không chỉ giúp chúng ta chinh phục những tri thức, vẻ đẹp mới của thế giới mà còn là cơ hội để rèn luyện bản lĩnh, trưởng thành và đóng góp nhiều giá trị tốt đẹp hơn cho cuộc đời thay vì cam chịu một góc nhìn hạn hẹp.
Phương án 2: Lựa chọn “Bằng lòng với cuộc sống hiện tại” (Hiểu theo nghĩa trân trọng hiện tại)
Theo em, trải nghiệm bằng lòng và trân trọng cuộc sống hiện tại mang một giá trị vô cùng đáng quý. Bằng lòng không có nghĩa là dừng lại, lười biếng, mà là biết tìm kiếm, trân quý những niềm vui bình dị và giá trị cốt lõi ngay trong hoàn cảnh của mình. Giống như những đứa trẻ ở rừng, dù chỉ đón trăng qua kẽ lá, chúng vẫn tìm thấy “những vệt ngời nho nhỏ” đầy lung linh và hạnh phúc. Giữa một xã hội luôn xô bồ và chạy theo những tham vọng xa xôi, khả năng sống trọn vẹn, bình yên và nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng với những gì mình đang có chính là một bản lĩnh sống hạnh phúc thực sự.
Phần II. VIẾT
Câu 1.
1/ MĐ: giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận (hình ảnh những trẻ em vùng cao)
2/ TĐ
– Hoàn cảnh sống của các em:
+ Sống ở rừng;
+ Chỉ có thể đón ánh trăng nhỏ bé xuyên qua kẽ lá;
+ Vầng trăng thơ mộng, lung linh chỉ còn là “những vệt ngời nho nhỏ”.
– Vẻ đẹp tâm hồn của các em:
+ Luôn trân trọng và tìm kiếm những niềm vui bình dị “Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ”;
+ Nét hồn nhiên, trong trẻo của trẻ thơ : gọi trăng xuống chơi, hát ca khe khẽ.
– Khái quát vài nét đặc sắc trong nghệ thuật khắc hoạ hình ảnh: thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu,…
3/ KĐ: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Đoạn văn tham khảo
Đoạn trích thơ trong bài “Trăng trong rừng và những đứa trẻ” của nhà thơ Thanh Thảo đã chạm khắc thành công hình ảnh những đứa trẻ miền núi với tâm hồn trong trẻo, ngây thơ, để lại những rung động thiết tha trong lòng người đọc. Câu thơ mở đầu “Những đứa trẻ ở rừng” đã khắc họa một hoàn cảnh sống thiệt thòi của các em. Giữa không gian đại ngàn âm u, bị che khuất, các em chịu nhiều thiếu thốn khi “chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá”. Vầng trăng trọn vẹn của thiên nhiên khi đến với thế giới của các em chỉ còn là “những vệt ngời nho nhỏ”. Thế nhưng, hoàn cảnh gian lao ấy không thể dập tắt đi nét đẹp tinh khôi trong tâm hồn trẻ thơ, những vệt sáng nhỏ bé ấy vẫn cứ “long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ”, bộc lộ một thế giới nội tâm trong sáng, luôn biết tìm kiếm và trân trọng niềm vui bình dị. Không chỉ vậy, nét hồn nhiên của các em còn được thể hiện sinh động qua lời gọi thiết tha, ngộ nghĩnh: “Trăng tròn ơi xuống đây chơi” cùng hành động “ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ”. Tiếng ca khe khẽ ấy vừa mang giai điệu đồng dao vui tươi, vừa ẩn chứa nét rụt rè, lặng lẽ của những cuộc đời nhỏ bé nơi thâm sơn cùng cốc. Đoạn thơ khép lại bằng câu hỏi tu từ đầy nhói buốt: “Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?”, bộc lộ niềm xót xa và sự đồng cảm sâu sắc của tác giả. Câu hỏi như một lời nhắc nhở lay động lòng người về quyền được yêu thương, được vui chơi trọn vẹn của trẻ em vùng cao. Bằng thể thơ tự do phóng khoáng cùng ngòi bút nhân văn, Thanh Thảo đã xây dựng thành công một bức tranh chân thực và đầy xúc động về những nét vẽ tuổi thơ miền núi. Qua đó, bộc lộ nét tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ khi không chỉ đồng cảm với những thiệt thòi của trẻ em vùng cao, mà còn trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong sáng, lạc quan luôn ngời sáng trong tâm hồn các em nhỏ.
Câu 2.
1/ Mở bài : giới thiệu vấn đề, nêu quan điểm của bản thân.
Trong kỷ nguyên số, khi các thiết bị thông minh phủ sóng toàn cầu thì một nghịch lý đáng báo động lại diễn ra: một bộ phận giới trẻ đang dần mất đi sự kết nối chân thực với cuộc sống xung quanh. Sự đứt gãy liên kết này là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng tìm kiếm những giải pháp toàn diện để tái lập lại những kết nối tích cực ngoài đời thực.
2/ Thân bài
a/ Phân tích vấn đề (Khái quát, ngắn gọn)
– Giải thích và thực trạng: Mất kết nối với cuộc sống là hiện tượng nhiều bạn trẻ thờ ơ với thế giới xung quanh, dành phần lớn thời gian đắm chìm vào mạng xã hội và các thiết bị điện tử thay vì tương tác trực tiếp với con người và xã hội.
– Nguyên nhân và hậu quả: Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sức hấp dẫn quá lớn của thế giới ảo cùng tâm lý ngại giao tiếp của một bộ phận thanh thiếu niên. Điều này dẫn đến những hậu quả khôn lường: giới trẻ dễ rơi vào trạng thái cô đơn, trầm cảm, thiếu hụt kỹ năng sống và dần trở nên vô cảm trước nỗi đau hay niềm vui của đồng loại.
– Ý kiến trái chiều và phản bác: Có quan điểm cho rằng việc “nghiện” kết nối ảo chỉ là một xu thế tất yếu của thời đại công nghệ và không đáng ngại. Tuy nhiên, đó là cái nhìn phiến diện; bởi lẽ công nghệ chỉ là công cụ, nếu con người để thế giới ảo thay thế hoàn toàn các giá trị tình cảm, trải nghiệm thực tế thì chúng ta sẽ chỉ còn là những “robot sinh học” thiếu đi linh hồn và lòng trắc ẩn.
b/ Đề xuất giải pháp (Trọng tâm – Giải pháp từ nhiều phía)
Để khắc phục triệt để thực trạng trên, sự chung tay từ nhiều phía :
– Về phía cá nhân : người trẻ cần quản lý thời gian sử dụng công nghệ thông minh bằng cách chủ động ngắt internet, dành thời gian trò chuyện và lắng nghe trực tiếp người thân, bạn bè. Bên cạnh đó, người trẻ phải tích cực dấn thân vào các hoạt động thực tiễn như tham gia câu lạc bộ, chiến dịch tình nguyện hoặc rèn luyện thể thao ngoài tự nhiên. Những hoạt động này giúp mở rộng thế giới quan, khơi dậy lòng trắc ẩn, sự đồng cảm và sẻ chia với cuộc sống xung quanh.
– Về phía gia đình : cha mẹ cần chủ động bước vào thế giới của con bằng sự thấu hiểu và tôn trọng thay vì những áp đặt mang tính thế hệ. Việc cùng con tạo nên những không gian sinh hoạt ấm áp, “nói không với thiết bị điện tử” trong các bữa ăn hay dịp cuối tuần chính là “khoảng lặng công nghệ” cần thiết để đối thoại. Gia đình phải là một điểm tựa tinh thần vững chãi, khi mái nhà thực sự là chốn bình yên, người trẻ sẽ tự khắc tìm thấy giá trị của những kết nối đời thực .
– Về phía nhà trường và xã hội : Nhà trường cần giảm bớt áp lực bài vở lý thuyết , chủ động thay đổi tư duy giáo dục, đưa việc “kết nối đời thực” trở thành một kỹ năng sống cốt lõi cho học sinh ; tổ chức nhiều hơn các hoạt động trải nghiệm, dã ngoại gắn liền với việc giáo dục lòng nhân ái và kỹ năng tương tác trực tiếp. Xã hội cần xây dựng các không gian sinh hoạt công cộng lành mạnh, các sân chơi văn hóa, thể thao hiện đại, mang tính mở để thu hút và gắn kết giới trẻ, giúp người trẻ nhận ra niềm vui của việc hòa nhập, từ đó chủ động bước ra khỏi vỏ bọc của thế giới ảo để cống hiến và trưởng thành.
3/ Kết bài : Khẳng định lại vấn đề, liên hệ bản thân
Tóm lại, việc xây dựng những kết nối có ý nghĩa tích cực với cuộc sống xung quanh là chìa khóa mở ra một tương lai hạnh phúc và nhân văn cho thế hệ trẻ. Mỗi chúng ta hãy tự nhắc nhở bản thân cần biết cân bằng giữa công nghệ và đời thực, chủ động tắt màn hình điện thoại khi ở bên người thân, bạn bè để học cách lắng nghe, sẻ chia và chạm vào cuộc sống một cách trọn vẹn nhất.
Chủ đề:Đề thi thử Văn vào 10 Hà Nội 2026, Đề thi thử vào 10 môn Văn Nghệ An, Đề thi Văn vào 10 chương trình mới, Đề thi văn vào 10 Hà Nội, Đề thi vào 10 môn Văn các tỉnh, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn, File đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn 2026, File de thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn có đáp an
