
So sánh bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương và Sóng của Xuân Quỳnh
Một nửa thế giới là phụ nữ. Song, chưa chắc nửa còn lại đã thấu hiểu được những điều phụ nữ băn khoăn và trăn trở. Bên cạnh những gánh nặng, lo toan bộn bề trong cuộc sống, người phụ nữ cũng mang trong mình con người bản năng, trong trái tim họ cũng có những khao khát, những ý thức về tình yêu và hạnh phúc của mình. Trong văn học, thơ ca về tình yêu quả rất nhiều, song có mấy tâm sự của người phụ nữ nào chân thành, tha thiết như Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh? Hai nhà thơ, hai thời đại, nhưng đều góp chung một tiếng nói: thơ nữ viết về tình yêu thường thể hiện sâu sắc bản lĩnh và ý thức về hạnh phúc của chính người phụ nữ.
Đề tài người phụ nữ là một đề tài muôn thuở trong thi ca. Mỗi thời đại, người phụ nữ bước vào văn chương với những dáng vẻ, những phẩm chất, tinh thần riêng. Trong ca dao, họ hiện lên qua hình ảnh của cái cò lặn lội bờ sông, cái kiến, con ong ngày đêm tần tảo. Tiếng nói của họ dường như là những lời than thân, trách phận nhưng đành cam chịu với nỗi khổ của mình. Đến văn học trung đại, người phụ nữ hầu như trở thành đối tượng để xót thương. Trong thơ của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… người phụ nữ đều là nạn nhân của hoàn cảnh. Xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, đặc biệt kiềm toả con người cá nhân khiến cho thân phận người phụ nữ bị coi nhẹ, rẻ rúng. Trong quan niệm về cái chết, người ta coi sự ra đi của con người nhẹ nhàng, như nằm trong quy luật sinh tử, luân hồi tất yếu của tạo hoá, bởi vậy số phận người phụ nữ cũng không được coi trọng, cái chết của họ chỉ là sự minh chứng cho tấm lòng trong sạch và sự trinh tiết mà thôi. Tuy nhiên, ở thời hiện đại, quan niệm về con người cũng khác, người phụ nữ được coi trọng hơn. Con người không còn nằm trong tương quan với vũ trụ, ngũ hành, bốn phương, tám hướng như trong thời trung đại nữa mà họ là những người làm chủ thiên nhiên. Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi… bởi vậy cũng hiên ngang bất khuất giữa trời” Tổ quốc như những anh hùng. Còn trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến hay Xuân Quỳnh… bên cạnh sự mạnh mẽ, mãnh liệt với tình yêu thì những người phụ nữ lại nồng nàn và đầy nữ tính.
Cần phải thừa nhận: xã hội Việt Nam là xã hội nam quyền. Tuy nhiên, những sự trỗi dậy của nữ quyền vẫn tồn tại. Không riêng gì xã hội hiện đại, mà ngay trong xã hội trung đại, ở một số cá tính mạnh mẽ, biểu hiện của nữ quyền đã manh nha. Trong văn học trung đại, Hồ Xuân Hương là một trong số ít những nhà thơ nữ. Nếu như cùng thời, Bà Huyện Thanh Quan đài các, hoài cổ thì Hồ Xuân Hương phá cách ở hiện tại. Sự phá cách ấy thể hiện ở tâm sự tình yêu của một người phụ nữ trong cái xã hội mà người ta “tiết dục”, “diệt dục”, chủ trương kiềm chế cảm xúc. Sau này, nữ sĩ Xuân Quỳnh dường như có một sự gặp gỡ. Sợi dây tri âm mang tên “nữ quyền” đã gắn kết hai nhà thơ, để họ cùng nhau cất lên tiếng nói sâu sắc khẳng định bản lĩnh và tìm đến hạnh phúc cho bản thân mình. Một bên đại diện cho thơ trung đại, một bên đại diện cho thơ hiện đại nhưng họ đã cùng nhau tìm thấy những tâm sự thầm kín trong trái tim mình. Con người bản năng trong họ được tìm thấy: là con người, chẳng ai không có nhu cầu thể hiện tình cảm của mình, chẳng ai muốn cất giấu nỗi lòng thầm kín, riêng tư. Điểm tương đồng ở Tự tình và Sóng là ở chỗ trong xã hội đương thời, người ta chủ trương kìm nén cảm xúc cá nhân, thậm chí những tình cảm riêng tư còn bị phản đối thì Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh đã dũng cảm lên tiếng bênh vực và nói lên khát vọng của người phụ nữ. Hai bài thơ như một lời tự tình, tự hát, một lời tâm sự đáng yêu, dễ mến đã đi sâu vào khám phá thế giới tình cảm bên trong của người phụ nữ. Hai nhà thơ đã khẳng định bản lĩnh và khao khát hạnh phúc chính đáng của mình. Cả Tự tình và Sóng đều hướng đến nhân vật trữ tình là người phụ nữ. Song, nếu như người phụ nữ ấy được nhìn dưới con mắt của người ngoài với niềm cảm thương, xót xa vô hạn như Nguyễn Gia Thiều thương người cung nữ năm nào, như Nguyễn Du trị âm với Tiểu Thanh, đau đớn với Thuý Kiều thuở ấy… thì Tự tình và Sóng lại trở nên quen thuộc. Điểm độc đáo ở hai bài thơ là Xuân Hương và Xuân Quỳnh đã “tự hát” lên những tâm sự, cảm xúc, cất lên tâm sự của mình bằng thủ pháp độc thoại nội tâm. Nhà thơ độc thoại mà như đối thoại với người đời. Đó là giá trị cao quý của văn chương: tác phẩm như một kết cấu “mời gọi”, gọi mở ra trước mắt người đọc bao suy ngẫm về nhân sinh. Bên cạnh đó, hai bài thơ đều xuất hiện cảnh vật, thiên nhiên. Bởi, “thiên nhiên trong thơ như một nhân vật”:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
(Nguyễn Du)
Thiên nhiên là yếu tố rất lớn góp phần thể hiện tình cảm con người. Xuân Diệu đã từng nhận định: tác phẩm văn học là sự “cưới xin” giữa ngoại vật và tâm sự của nhà văn. Sự “cưới xin” ấy như một niềm an ủi, đồng cảm, sẻ chia mà Xuân Hương và Xuân Quỳnh đã tự nguyện gắn tình cảm, tâm sự tình yêu của chính mình.
Tự tình và Sóng có sự gặp gỡ nhau kì lạ như thế “thiên duyên”. Song, nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo; mỗi nhà thơ lại tự tìm cho mình một cách thể hiện tâm sự tình yêu rất riêng “Tâm sự tình yêu” là những tình cảm, cung bậc rất riêng, thầm kín, sâu sắc về tình yêu của mỗi con người. Xuân Diệu chẳng đã viết:
Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào.
Tuy nhiên, cuộc sống là một bức tranh muôn màu, muôn vẻ mà mỗi người lại làm nên một mảnh ghép của bức tranh ấy. Tình yêu có muôn vàn màu sắc. Bởi vậy, tâm sự tình yêu của mỗi người sao có thể giống nhau đây.
Trong bài thơ Tự tình, Hồ Xuân Hương đã cất lên tiếng nói của tình cảm, một tâm sự tình yêu thật nữ tính nhưng cũng đầy khắc khoải, thổi vào văn học trung đại lúc bấy giờ một tiếng nói mới. Vì sao vậy?
Thể hiện tình cảm, nỗi niềm của con người không phải đến Xuân Hương mới có. Khi xưa Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông hay ngay cả Nguyễn Du đã thể hiện sâu sắc những cảm xúc bên trong con người… Song, họ mới chỉ dừng lại ở việc “ẩn nấp” sau cảnh vật mà thôi. Đến Hồ Xuân Hương, bà đã trực tiếp nói lên tâm sự tình yêu của chính mình. Nếu Tiểu Thanh, Đạm Tiên, Thuý Kiều phải nhờ Nguyễn Du nói hộ thì Xuân Hương tự tình cho Xuân Hương. Thật độc đáo! Tuy nhiên, trong bài thơ Tự tình, nhà thơ không mạnh bạo, không “lên gân” như trong các bài thơ khác. Trong Tự tình ta không còn thấy một Xuân Hương mạnh mẽ với chém cha cái kiếp lấy chồng chung nữa, mà tâm sự của bà là nỗi niềm khắc khoải, oán trách, đớn đau. Hồ Xuân Hương cất tiếng thương cho bản thân mình:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trợ cái hồng nhan với nước non.
Câu thơ sao chua chát, bi phẫn đến thế! Trong không gian đêm khuya vắng lặng, người phụ nữ “tự tình”, đau đớn cất lên tâm sự. Nhân vật trữ tình dường như sống một cuộc sống giày vò, không hạnh phúc.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, yêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Cảnh vật trong thơ đều là những gì nhỏ bé, chia lìa, tan vỡ. Thiên nhiên thế hiện sâu sắc tâm trạng đau khổ của người phụ nữ. Nhân vật trữ tình khắc khoải ê chề trong cõi áo, cõi mộng, chìm đắm lúc tỉnh lúc say. Người say vì rượu hay người say vì tình? Tình say vì tình mặn nồng hay tình dang dở Những câu hỏi liên tiếp đặt ra trong tâm trí người đọc. Hai câu luận cất lên đầy phẫn uất, khổ đau. Cảnh vật bị cắt xé, chia lìa. Những động từ mạnh càng thể hiện rõ nỗi niềm của nhà thơ trong con đau đớn, tuyệt vọng, để khi trở về với chính mình, người phụ nữ dành than vãn:
Ngàn nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con
Hai câu thơ kết là sự bộc lộ trực tiếp tâm sự của Hồ Xuân Hương. Nếu những câu trên khẳng định bản lĩnh của một người phụ nữ thì hai câu thơ này thể hiện sự ý thức về hạnh phúc của chủ thể trữ tình. Đó là sự ý thức về thân phận làm lẽ, phải san sẻ tình cảm cho người khác. Dường như trong đó ẩn chứa sự cam chịu, “dành phận” của người phụ nữ. Đặt trong hoàn cảnh xã hội dương thời, điều đó như một bi kịch, một định mệnh của người phụ nữ:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
(Nguyễn Du)
Hồ Xuân Hương chọn cách “tự tình” qua những hình ảnh thơ ước lệ quen thuộc với một không gian, thời gian hữu hạn. Người phụ nữ được đặt trong thời gian canh khuya nên càng trở nên cô đơn, vò võ. Thể thơ Nôm Đường luật với nhịp 4/3 truyền thống và giọng thơ buồn trĩu nặng tâm sự, nỗi niềm như oán trách đã giúp nữ sĩ “tự tình” đầy chân thành, sâu sắc.
Cách Hồ Xuân Hương mấy trăm năm, Xuân Quỳnh một lần nữa tìm đến tình yêu để thể hiện những khát khao, thể hiện bản lĩnh và ý thức của mình. Khác Tự tình, Sóng với nhan đề ngắn gọn, không hé mở tình cảm nhưng lại gọi rõ tâm thế của một người phụ nữ đứng trước biển, chứa đầy tâm sự, hướng mắt về không gian bao la, vô hạn, dầy bí ẩn. Nếu tâm sự tình yêu chủ đạo trong bài thơ Tự tình là nỗi cô đơn, đau đớn, là bi kịch tình yêu khắc khoải của người phụ nữ thì Sóng như một bài hát tình yêu nhiều cung bậc phong phú, đa dạng. Sóng cất lên tiếng nói khát vọng tình yêu như một chân lí: trái tim còn khao khát thì trái tim ấy còn yêu.
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Điều độc đáo của Xuân Quỳnh trong bài Sóng là đã sử dụng thành công hình tượng sóng. Sóng và em cứ chuyển hoá cho nhau tạo nên một cặp đối xứng với trục duy nhất là sự khát khao! Trong bài thơ Sóng, cảnh và tình hoà hợp nhưng dường như, hình tượng sóng được con người gán cho những cung bậc tình cảm. Nếu thơ trung đại, thiên nhiên là chủ thể thì ở thơ hiện đại, thiên nhiên là khách thể, con người là trung tâm. Nhà thơ Xuân Quỳnh đã nhân hoá “con sóng nhớ bờ”, khiến nó cũng mang những cung bậc tình cảm như con người. Đạt dào theo những con sóng giữa “biển tình yêu”, nữ thi sĩ tìm trên đó những cảm xúc của trái tim đang yêu:
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thể
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.
Tâm sự tình yêu của Xuân Quỳnh đa dạng, phong phú bởi con người hiện đại vốn đa chiều, phức tạp. Trong khi con người trung đại là con người chức năng. Sóng thể hiện những đối cực trong tình yêu, những khao khát yêu thương, để rồi đi tìm những nguyên nhân của tình yêu. Sóng mang cung bậc của nỗi nhớ, của lòng thuỷ chung, của nỗi lo âu, dự cảm và cuối cùng là khát khao mãnh liệt về tình yêu:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Xuân Quỳnh là thế đấy! Luôn nồng nàn, tha thiết, luôn khát khao yêu và được người yêu:
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ước.
Tuy nhiên, càng khát khao bao nhiêu, nhà thơ lại càng lo âu bấy nhiêu:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biến kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Để khi chiêm nghiệm được rằng:
Nhặt chi con ốc vàng
Sóng xô vào bờ bãi
Những cái gì dễ dãi
Có bao giờ bền lâu
Không như chàng thi sĩ Xuân Diệu ấp ôm, khao khát “làm biển xanh”, không như Trịnh Thanh Sơn nuối tiếc
Một cộng với một thành đôi
Anh cộng cô đơn thành biển
Nắng tắt mà người không đến
Anh ngồi rót biển vào chai.
Xuân Quỳnh cũng hướng về biển nhưng lại gọi sóng ùa vào lòng người đọc.
Khác với Tự tình, Sóng chỉ chọn hai hình tượng là sóng và em. Sóng nhẹ nhàng, sử dụng chủ yếu là tính từ nhưng lại cất lên khát vọng tình yêu sâu sắc. Xuân Quỳnh tìm đến không gian lớn với thời gian vô hạn: “ngàn năm” và thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ ngắn, giọng thơ rạo rực, sôi trào, nhà thơ đã thể hiện độc đáo tâm sự tình yêu của mình.
Một Tự tình khắc khoải, một Sóng thiết tha, Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh đã gặp nhau cùng cất lên tiếng nói thấu hiểu những tâm tư, tình cảm của chính mình, tiếng nói của nữ quyền trong xã hội nam quyền. Họ đã khơi dậy ở mỗi người không chỉ là sự cảm thương, tấm lòng tri âm mà còn là lời thúc giục đấu tranh cho hạnh phúc, thể hiện bản lĩnh của người phụ nữ trong xã hội. Tuy nhiên, do hoàn cảnh thời đại, xã hội mà mỗi nhà thơ lại có cách thể hiện riêng. Hồ Xuân Hương ít nhiều vẫn bị đạo Nho – xã hội phong kiến kiềm toả nên chỉ dừng lại ở nỗi xót xa, ở sự bế tắc trước bi kịch của mình, còn Xuân Quỳnh sống trong xã hội hiện đại, được tự do thể hiện tình cảm, có thể nói lên khát vọng và con đường đi tìm hạnh phúc: sông tìm ra tận bể. Bên cạnh đó, Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh đều là hai nhà thơ nữ có cá tính sáng tạo độc đáo, có phong cách nghệ thuật riêng. Xuân Hương mạnh mẽ, Xuân Quỳnh dịu dàng; Xuân Hương phá cách, Xuân Quỳnh đằm thắm.
Thơ đối với cuộc sống như người phụ nữ đối với gia đình. Cái để làm quen ban đầu là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài là đức hạnh. Tự tình (Hồ Xuân Hương) và Sóng (Xuân Quỳnh), thơ của hai người phụ nữ ở hai thời đại khác nhau, đích thực là một thứ thơ vừa có nhan sắc, vừa có đức hạnh luôn tìm được sự đồng cảm mãnh liệt của người đời.
(Bài đoạt giải Nhất – 18,5/20 điểm)















